Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 211

Tổng truy cập: 2218451

CHÍNH ANH EM HÃY CHO HỌ ĂN

CHÍNH ANH EM HÃY CHO HỌ ĂN

 

(Suy niệm của Lm. Hiền Lâm)

Chắc chắn rằng, phép lạ hóa bánh ra nhiều là một sự kiện lịch sử. Bởi vì đây là sự kiện mà cả bốn Tin Mừng đều đã tường thuật một cách rất chi tiết về địa danh, thời gian và số lượng người trong phép lạ này.

Hành động của Chúa Giê-su trong sự kiện hóa bánh ra nhiều hôm nay, bao gồm cùng lúc hai công việc của Đấng Cứu Thế, là chữa lành và nuôi dưỡng dân Người. Cả hai đều nói lên lòng thương xót vô bờ bến của Thiên Chúa đối với con người, nhất là những người đau khổ, vì họ vừa mang lấy bệnh tật thể lý vừa mang nặng bệnh tật tâm linh, vừa đói khát của ăn vật chất vừa đói khát của nuôi linh hồn. Hành động yêu thương của Chúa được cụ thể qua việc ra tay chữa lành các bệnh tật cho dân, và đặc biệt chạnh lòng thương hoá bánh ra nhiều để nuôi dưỡng họ.

Chúa Giê-su ngước mắt lên và thấy đông đảo dân chúng đến với mình… Chúa Giê-su chạnh lòng thương (cái đói vật chất cũng như tinh thần của con người). Chúng ta cũng được mời gọi ngước mắt lên để nhìn thấy hoàn cảnh của mọi người mà cảm thông với họ, chứ không phải ru rú cho mình mà bất biến với mọi người xung quanh đang cần đến chúng ta.

Chúa Giê-su không dùng quyền năng để hô biến đem của ăn từ đâu tới, nhưng Người muốn con người cộng tác dâng lên của ăn từ bàn tay lao động của con người (nghề trồng trọt – bánh; nghề đánh lưới – cá). Phép lạ xảy ra khi biết đem chia sẻ cho nhau và cùng ngồi xuống ăn chung với nhau, chứ phép lạ không thể xảy ra khi chúng ta giữ khư khư năm chiếc bánh và hai con cá để ăn một mình.

Vì thế:

Cần có tâm trạng “chạnh lòng thương” của Chúa Giê-su trước những người kém may mắn, những người đói khát cả tinh thần lẫn vật chất (nghèo tinh thần là đói khát Lời Chúa và Thánh Thể…, nghèo đói vật chất là thiếu những nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống).

Hành động như Chúa Giê-su là dâng lời tạ ơn Thiên Chúa Cha rồi bẻ ra phân phát cho dân. Các động từ “chia sẻ”, “tạ ơn”, “bẻ ra” và “trao” mang ý nghĩa đặc biệt:

Chia sẻ: Giúp đỡ người khô khan trở về với Chúa, san sẻ phần mình cho kẻ đói nghèo trong mức độ có thể.

Tạ ơn: mỗi người dâng cho Chúa phần của mình, dâng lời tạ ơn Chúa đã ban cho chúng ta lương thực hắng ngày.

Bẻ ra: Mọi người đừng ăn một mình, nhưng hãy bẻ ra để chia cho những người khác thiếu may mắn hơn chúng ta.

Trao cho: Nhạy bén trước nhu cầu của người đang đói mà đến trao cho họ, chứ không đợi họ phải xin rồi mới cho.

Chúa muốn các môn đệ phải lo cho dân no đủ chứ Chúa không bảo ông này bà kia cho họ ăn. Nghĩa là chính mỗi người chúng ta có liên đới trách nhiệm với mọi người xung quanh chúng ta (nơi giáo xứ, trường học, nơi làm việc) cả tinh thần và vật chất:

Về tinh thần: Có trách nhiệm về đức tin và đạo đức với cận nhân. Đó không phải chỉ là chuyện chỉ dành cho cha xứ, dành cho các giáo lý viên, mà là mọi người con Chúa đều mang trên mình sứ mạng phải truyền bá và làm chứng đời sống đức tin và đạo đức cho anh em.

Về vật chất: Biết chia cơm sẻ áo cho người thiếu thốn hơn mình. Đó không phải chỉ là việc của những nhà từ thiện, những tổ chức cứu trợ, mà là trong khả năng chung tay đóng góp của mình.

Chúa bảo “cho” chứ không bảo phải mua của mình, không phải đưa ra lời khuyên bảo họ ra quán mà mua (như giải pháp của các môn đệ đưa ra).

Mọi người có tương quan liên đới và chịu trách nhiệm với nhau trong một giáo xứ, trong một trường học, trong nơi mình sống và làm việc, liên đới với đồng loại. Khi một thành viên trong giáo xứ làm điều xấu, thì thiên hạ đàm tiếu rằng nó là người của xứ đó, người của lớp đó, người của trường đó, người thuộc sự dạy dỗ của cha xứ đó, thầy cô đó… Và ngược lại, một người làm điều tốt, thì cũng liên đới như vậy… Chúng ta có trách nhiệm giúp đỡ nhau sống đạo, giúp đỡ nhau sống đời. Chúng ta cũng có bổn phận đưa tiễn và cầu nguyện cho người đã qua đời…

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con mặc lấy tâm tình của Chúa, để không những có lòng cảm thương, mà còn biết cộng tác thiết thực với Chúa trong khả năng mình có thể, để xoá dần sự đói nghèo vật chất cũng như tinh thần của những người cần đến chúng con. Amen.

 

19.Năm chiếc bánh và hai con cá

(Giải thích bản văn Tin Mừng của Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến)

Trình thuật phép lạ bánh cá hoá nhiều (14,13-21) nằm trong văn mạch của thắc mắc về căn tính của Chúa Giêsu (14,2). Đối với dân chúng, Ngài là một ngôn sứ (14,5), vì Ngài đã giảng dạy họ (xem chương 13). Trong trình thuật nầy, Ngài sẽ tỏ mình ra cho họ hơn là một ngôn sứ. Ngài là vị mục tử Thiên Chúa sai đến như Ngài đã hứa qua các ngôn sứ (Ezk 34,12-16). Từ xuất hiện nhiều nhất trong đoạn nầy làochlos, “dân chúng” (cc. 13.14.15.19 [2x]), và các từ liên quan đến việc ăn uống: brōma, “thức ăn” (c. 15), esthiō, “ăn” (cc. 16.20.21); artos “bánh mì”, ichthys, “cá” (c. 17.19), anaklinō,“nằm ngả” (c. 19), chotazō, “no nê” (c. 20), klasma, “mảnh vụn” (c. 20), “mười hai thúng đầy” (c. 20). Chúa Giêsu chủ động mọi sự trong trình thuật nầy. Dân chúng là đối tượng thi ân của Ngài. Họ đi theo Ngài, được Ngài chữa lành và cho ăn no nê.

Đoạn tin mừng nầy được phân chia dựa trên sự xuất hiện của ochlos, “dân chúng”: – Chúa Giêsu xót thương và chữa lành bệnh tật của dân chúng (cc. 13.14); – Chúa Giêsu làm bánh cá hoá nhiều cho dân chúng (cc. 15-21).

Chúa Giêsu xót thương và chữa lành bệnh tật của dân chúng (cc. 13-14)

So với các đoạn song song trong các tin mừng nhất lãm (Mc 6,32-44; Lc 9,10b-17) và cả Gioan (Ga 6,1-15), chỉ mình Matthêo đưa trình thuật tử đạo của Gioan Tẩy Giả vào trước trình thuật phép lạ nầy. Thánh sử nhập đề trình thuật nầy với câu: “Nghe được Chúa Giêsu bỏđó”, akousas…anachōreō (c. 13). Chúa Giêsu nghe chuyện Gioan Tẩy Giả bị Hêrôđê giết (cc. 3-12), và Ngài bỏ đó mà đi vào hoang địa. Matthêô cố ý đưa câu chuyện tửđạo của Gioan vào đây, cũng như thánh sử đã làm ở 4,12. Thánh sử muốn cho thấy khi Gioan bị bắt, nghĩa là khi ông chấm dứt sứ vụ rao giảng của mình, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng công khai trước tiên ở Galilêa, và khi người ta bắt đầu thắc mắc về tên tuổi của Chúa Giêsu (14,1), Matthêô đưa vào câu chuyện Gioan bị giết. Cuộc đời Gioan Tẩy Giả phải hoàn toàn biến mất đi trước khi Chúa Giêsu mạc khải cách toàn vẹn mình là ai.

Khung cảnh không gian trình thuật là hoang địa. Trong câu 15-16, thánh sử chỉ cho thấy hai nhân vật là Chúa Giêsu và dân chúng; động từ anachōreō, “bỏ đó mà đi” số ít (c. 13). Câu dẫn nhập 13 gồm hai vế song song, có cùng một cấu trúc: bắt đầu bằng akousas/akousantes “nghe biết”, Chúa “rút lui”/dân chúng “đi theo” (động từ ở aorist), đi “bằng thuyền”/ “đi bộ”, “vào hoang địa”/ “từ các thành”.

Chúa Giêsu đi trước, dân chúng theo sau, cả hai cùng vào hoang địa; cách trình bày nầy vẽ lên hình ảnh người mục tử đi trước, đàn chiên theo sau. Matthêô rất thích nhắc đến “Dân chúng đi theo Ngài” (4,25; 8,1.10; 12,15; 14,13; 19,12). Lần nầy họ “từ các thành” theo Ngài vào hoang địa, cũng như trước đây “Giêrusalem và cả xứ Giuđê và khắp vùng giáp cận sông Giorđan trẩy đến” với Gioan Tẩy Giả trong hoang địa (3,5). Chúa Giêsu đã thay thế Gioan Tẩy Giả, và Ngài cao trọng hơn ông (11,7.9).

Chúa Giêsu thấy và động lòng thương (c. 14). Động từ splanchnizomai, “chạnh lòng thương xót”, thường kèm theo việc chữa lành, therapeuō hoặc làm phép lạ (9,36; 14,14; 15,32; 20,34). Ngài đã hành động của một vị mục tử, dù Matthêô không trích dẫn ở đây câu “vì họ bơ phờ vất vưởng, như chiên không người chăn giữ” như trong đoạn song song của Marcô (Mc 6,34; x. Mt 9,36; Ds 27,17).

Chúa Giêsu làm bánh cá hoá nhiều cho dân chúng (cc. 15-21)

Bố cục của đoạn nầy: – Dẫn nhập với khung cảnh thời gian (c. 15a), – Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và các môn đệ (cc. 15b-18), – Phép lạ gồm chúc tụng, phân phát bánh (cc. 19), – Kết quả là dân chúng no nê, và tổng kết với những con số: 12 thúng đầy bánh vụn thừa (c. 20) và năm ngàn người ăn (c.21) cho thấy sự vĩ đại của phép lạ.

Sang đoạn nầy, Matthêô đưa vào đây chi tiết thời gian “Chiều đến”, cũng là thời gian của bữa Tiệc ly (26,20), và “các môn đệ” (c. 15a). Trong lời trình bày của các môn đệ, thánh sử cho thấy một tình huống thách đố, không thuận lợi cho dân chúng: “chiều đến”, nơi họ đang đứng là “hoang địa”, “giờ đã quá”; các môn đệ có mặt nhưng họ không giải quyết được gì cả, “Chúng con chỉ có năm chiếc bánh và hai con cá” (c. 17). Họ yêu cầu Chúa Giêsu giải tán dân chúng, để họ vào làng mạc mua thức ăn cho mình (c. 15b). Chúa Giêsu hành động khác với các môn đệ của Ngài. Ngài nhận trách nhiệm cho dân chúng ăn. Một số thủ bản nêu tên Iēsous ở câu 16, nhấn mạnh sự hiện diện chủ động của Ngài.

Chúa Giêsu nói với các môn đệ, “Họ không cần phải ra đi” (c. 16). Cụm từ echō + cheia, “có nhu cầu” cũng gặp thấy ở 3,14; 6,8; 21,3,chỉ sự cần thiết không thể thiếu. Ngược lại, ở dạng phủ định (9,12; 14,16), cụm từ có nghĩa là không cần thiết chút nào. Dân chúng “không cần phải ra đi” vì ở đây họ vẫn có thức ăn. Vì thế, Chúa Giêsu ra lệnh cho các môn đệ “Các con hãy cho họ ăn” (c. 16b), như thể thức ăn đã có sẵn và chỉ cần các môn đệ dọn ra cho dân chúng mà thôi. Để có thể hoàn thành mệnh lệnh nầy, chính Chúa Giêsu sẽ ban/cho, didōmi, bánh và cá cho các môn đệ (c. 19) để họ trao lại cho dân chúng. Động từ didōmi “cho” (cc. 16 và 19) đóng khung lại hành động “cho họ ăn” của các môn đệ.

Với dân chúng, Ngài hành động như một vị mục tử đối với đàn chiên. Ngài trực tiếp “truyền lệnh dân chúng ngả trên bãi cỏ”; khác với Mc 6,39 và Lc 9,14 là Chúa ra lệnh cho các môn đệ để họ cho dân chúng nằm ngả trên bãi cỏ thành nhóm (x. Tv 23). Anaklivō, “nằm ngả” động từ nầy cũng được dùng trong khung cảnh bữa tiệc Nước Trời (8,11).

Tiếp theo là phần cầm lấy bánh và chúc tụng. So sánh cc. 19-20 nầy với cc. 26,20-29 liên quan đến bữa Tiệc ly, có những từ ngữ chung như sau: “chiều đến”, nằm ngả”, “cầm lấy”, “bánh”, “chúc tụng”, “bẻ ra”, “cho/trao cho các môn đệ”, “ăn”.

Phép lạ nầy hoàn toàn là ý của Chúa Cha. Câu 19 nầy có cấu trúc đối đảo:

a- Truyền cho dân chúng ngả mình trên cỏ,

b- cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá,

c- Ngài ngẩng mặt lên trời mà chúc tụng,

b’- bẻ ra, Ngài ban bánh cho môn đồ,

a’- và môn đồ cho dân chúng.

Giải thích cấu trúc:

Từ “dân chúng” đóng khung cấu trúc, và cho thấy việc ban bánh cho họ được thực hiện (a,a’);

Từ “bánh” đóng vai trò chính yếu trong b,b’, + hai phân từ “cầm lấy” và bẻ ra” tương hợp với nhau + “và ban”. Tất cả yếu tố nầy cho thấy Chúa Giêsu hoàn thành việc ban bánh;

Phần c gồm một câu bắt đầu bởi một phân từ “Ngẩng mặt lên trời” và động từ chỉ hành động đã hoàn thành “chúc tụng”. Hai phần nầy liên kết với nhau bởi trạng từ kai “và”. Như thế, hành vi “chúc tụng” diễn ra khi Chúa Giêsu “ngẩng mặt lên trời”. Điểm nhấn mạnh trong cấu trúc nầy chính là hành vi Ngài chúc tụng Chúa Cha.

Ouranos, “trời”, nơi Thiên Chúa ngự (5,45; 12,50; 18,10.14.19). Ngài “nhìn lên trời” nghĩa là nhìn lên Chúa Cha (x. Tv 123,1); và cử chỉ bên ngoài nầy cho thấy là Ngài hướng về Cha trước khi làm phép lạ (x. Mc 7,34). Ngài chỉ làm phép lạ vì Cha muốn. Nếu hiểu như thế nầy là đúng, động từ eulogeō có nghĩa là “chúc tụng/tạơn (Chúa Cha)”, chứ không phải là chúc tụng trên bánh; ý nghĩa của động từ cũng được hiểu như thế trong trình thuật về Tiệc ly (22,26). Ngoài 14,19 và 26,26, động từ nầy chỉ được dùng theo nghĩa “được Thiên Chúa chúc phúc” (x. 21,9; 23,39).

Bởi lòng nhân lành của Chúa Giêsu Kitô, dân chúng được chữa lành mọi bệnh tật và no thỏa bánh cá. Bữa tiệc Ngài đãi dân chúng trong hoang địa nầy báo trước bữa tiệc Thánh Thể, trong đó lòng nhân lành của Ngài biểu lộ cách vô biên đến nỗi Ngài lấy chính mình làm lương thực cho muôn người.

 

20.Các con hãy cho họ ăn

(Suy niệm của Lm. Đam. Trần Văn Điều)

Trung Hoa và Ấn Độ là 2 quốc gia có tỷ lệ dân số cao nhất thế giới hiện nay. Trung Hoa nhờ áp dụng chính sách kinh tế hợp lý, đang triển vọng vươn lên thành một nước giàu có; trong khi đó, Ấn Độ do tài nguyên thiên nhiên không dồi dào, đường lối kinh tế chưa ổn định, xã hội quá phân biệt nhiều giai cấp khác nhau, nên quốc gia còn đang phát triển, đời sống dân chúng vẫn vất vả lầm than.

Cách đây vài thập niên, Calcutta khi ấy là một thành phố đông dân: ban ngày, người nghèo ngồi la liệt khắp phố, mong chờ lòng rộng rãi giúp đỡ của khách thập phương; ban đêm, họ không nơi cư trú phải nghỉ đêm trên các vỉa hè, hẻm cụt của thành phố. Một nữ tu trung niên người Albanie vốn đang phục vụ truyền giáo tại Ấn Độ, đã động lòng xót thương họ. Đêm ngày đối diện những cảnh nghèo hèn đau khổ của cư dân thành phố Calcutta, Chị đã tự hỏi: “Ta phải làm gì cho đám đông những người đáng thương này?”. Trở lại nhà dòng, Chị gom hết số tiền mình có, mua một căn nhà rẻ mạt và sửa chửa nó thành nơi cư trú qua đêm cho những kẻ không nhà. Bằng khả năng nhỏ bé nhưng với tấm lòng quảng đại to lớn, Chị muốn ra tay làm một cái gì đó giúp người khốn cùng không còn phải bơ vơ hiu quạnh nữa.

Không những lo cho họ có chỗ định cư, lại còn phải tìm nguồn cung cấp lương thực giúp họ sống qua ngày. Làm thế nào Chị nữ tu ấy- mà sau này người ta quen gọi là Mẹ Têrêsa- có thể nuôi đủ 9000 miệng ăn mỗi ngày? Chúa đã không chịu thua lòng bác ái của Mẹ. Nhiều bàn tay yêu thương sẵn sàng liên đới công việc từ thiện của Mẹ: một đôi bạn trẻ sắp lập gia đình, hy sinh không tổ chức tiệc cưới dành toàn bộ chi phí giúp người nghèo; Ủy Ban Nobel trao tặng Mẹ giải thưởng Nobel Hoà Bình năm 1979; nhiều phụ nữ thiện chí dâng hiến cuộc đời trong hội dòng Thừa Sai Bác Ái nối dài việc cứu tế.

Biết nhận ra những người nghèo đói quanh mình, sẵn sàng giúp đỡ tình trạng đau khổ của họ là phương thế đáp ứng lời mời gọi của Chúa: “Các con hãy cho họ ăn” (Mt 14,16).

A. Tình trạng đói khát trong cuộc sống.

1. Sách Các Vua quyển thứ II thuật lại: tiên tri Êlisa, môn đệ thân tín của Êlia, đến vùng Baal- Salisa rao giảng. Dân chúng hàng trăm người khát Lời Chúa tuôn đến nghe Êlisa nói đến nỗi không mang lương thực đi đường (2V. 4,42-44). Với 20 bánh mạch nha và lúa mì đầu mùa của một người dâng cúng, Êlisa đã xin Chúa giúp dân no nê cơm bánh đường dài.

2. Tin Mừng hôm nay (Mt 14,13-21) cũng cho thấy: đám đông dân chúng từ các thành thị đến nghe Chúa giảng. Nơi hoang địa xa nhà, họ không đủ thuận lợi để mua thức ăn dọc đường. Với 5 chiếc bánh và 2 con cá của một em bé mang theo (Ga. 6,9), Chúa đã làm phép lạ hoá bánh và cá ra nhiều nuôi trên năm ngàn người ăn dư dả.

3. Cha Mark Linh, SJ. cho biết: Báo Chicago Sun Times có thực hiện một nghiên cứu thì biết rằng thế giới hiện nay trên 6 tỉ người, trong đó hàng đêm khoảng 450 triệu người đi ngủ (13%) mà bụng vẫn đói cồn cào. Họ không đủ điều kiện để có cơm bánh qua ngày, suy dinh dưỡng trầm trọng.

4. Phi Châu xưa nay vốn là một lục địa có nhiều quốc gia nghèo đói trong vùng. Thập niên 1990, nước Rwanda xảy ra tình trạng tranh chấp giữa 2 sắc tộc: Tutsi và Hutu. Đất đai kém cỏi, hạn hán thường xuyên, lại thêm cuộc nội chiến phe phái, đời sống dân Rwanda mỗi ngày một cùng cực hơn. Liên Hiệp Quốc phải kêu gọi Quốc Tế cứu đói Rwanda.

B. Giúp đỡ kẻ khốn cùng: hãy cho họ ăn.

1. Thiên Chúa luôn yêu thương con người. Ngài không ngừng thi ân cứu giúp khi con người lâm cơn đói khát.

* Nơi sa mạc nắng cháy da người, dân Do Thái lo sợ đói ăn, khát uống. Thiên Chúa đã nuôi dân bằng manna và chim cút, Ngài lại còn cho Maisen cầm gậy gõ vào đá khiến nước vọt ra tràn trề dân uống thoả thuê (Xh. 16-17,1-6).

* Tiên tri Êlia bị hoàng hậu I-de-ven truy nã vì đã ra lệnh sát hại các sư sãi thần Ba-al. Trên đường tránh nạn, Êlia khiếp sợ và lo lắng cho mạng sống mình. Suốt bốn mươi ngày đi đến núi Khô-rếp, Chúa đã nuôi Êlia bằng bánh và nước, giúp ông an tâm ẩn mình, tiếp tục phục vụ Thiên Chúa (1V. 19,1-8).

* Sách tiên tri Isaia còn cho thấy: Thiên Chúa dọn sẵn cho dân Người một bữa tiệc miễn phí đầy cao lương mỹ vị, người nghèo khổ đói khát không có gì để trả cũng được mời tham dự (Is 55,1-3). Bữa tiệc ấy chính là hình ảnh Nước Trời, nơi con người được no nê sung mãn mọi sự.

2. Chúa Giêsu cũng thúc giục các Tông Đồ: “Các con hãy cho họ ăn” (Mt 14,16). Ngài mời gọi con người hãy quan tâm đến nhu cầu thiếu thốn của tha nhân.

* Thánh Martin de Porrès: “đứa con bị từ chối” bởi người cha là một hiệp sĩ Tây Ban Nha. Tuy gia đình nghèo khổ, mẹ Ngài vẫn kiên tâm giáo dục 2 chị em Martin nên người tốt lành, hữu ích cho xã hội. Một ngày nọ đi chợ, Martin gặp người nghèo túng bên đường, Martin đã bớt xén tiền chợ, bố thí giúp kẻ khốn cùng. Cậu biết mình cơ cực nhưng nghĩ đến còn nhiều người khác neo đơn hơn: Martin đã rộng tay san sẻ cái mình có.

* Cơn bão Katrina 2005 làm nhiều cư dân VN vùng New Orleans và Bilosi gặp khó khăn. Ngày ngày, họ nhận hàng viện trợ Red Cross cung ứng, tháng tháng lãnh phiếu Food Stamps chi tiêu cho qua ngày đoạn tháng. Bất ngờ vài tháng sau đó, quê nhà Việt Nam bị cơn bão số 9 tàn phá miền Trung dấu yêu: đồng hương đất Mẹ không nhà cửa trú thân, mỗi bữa ăn chỉ được giúp tiêu chuẩn một gói mì tôm, cơn đói hành hạ thê thảm. Kiều bào VN hải ngoại đã không ngại đóng góp tiền của, nhanh tay cứu giúp anh chị em quê nhà còn khốn khổ hơn nỗi xót xa Katrina của mình.

* Mahatma Gandhi đã nói: “Theo quan niệm cá nhân tôi, tất cả chúng ta xét ý nghĩa nào đó đều là tên ăn cắp. Vì: ta có quá nhiều cái dư thừa không cần thiết, trong khi người anh em quanh ta còn thiếu thốn đang cần đến nó. Chúng ta có vật nào đó không cần, thì vật ấy chính là của ăn cắp mà chúng ta lấy từ những người nghèo cần đến nó”.

C. Thiên Chúa cần những bàn tay cộng tác của con người.

Tiên tri Êlisa không thể giúp dân chúng vùng Baal-Salisa thoát khỏi cơn đói lả, nếu không có người dâng cúng cho tiên tri 20 bánh mạch nha và lúa mì đầu mùa. Chúa Giêsu muốn giúp cho dân chúng đi nghe Ngài giảng được ăn no nê, Chúa mời gọi em bé dâng cúng 5 chiếc bánh và 2 con cá. Ngài đã thực hiện phép lạ hoá bánh ra nhiều vì yêu thương con người. Ngài sẵn sàng chúc phúc cho con người, khi con người biết cộng tác, đóng góp khả năng mình vào chương trình của Thiên Chúa. “Thánh ý Ngài là gia nghiệp con mãi mãi…Con hướng lòng quyết thực thi thánh chỉ, mãi mãi cho đến cùng” (Tv.118:111-112).

* Trong một lớp Kinh Thánh, khi học hỏi tìm hiểu về phép lạ hoá bánh ra nhiều, một học viên tân tòng đã hỏi Cha xứ rằng: “Thưa Cha! Ngày xưa Chúa đã làm phép lạ nuôi 5000 người ăn, tại sao thời nay Chúa không tiếp tục làm phép lạ thêm, để chúng ta khỏi phải đi làm đầu tắt mặt tối như thế này?”. Cha xứ đã khéo léo trả lời: “Chúa là Đấng quyền năng, Ngài vẫn thường xuyên làm phép lạ cho con người. Ngài vẫn nuôi dân Chúa mỗi ngày bằng lương thực Lời Chúa và Mình Thánh Chúa. Nhưng Chúa vẫn muốn chúng ta cộng tác với Ngài vì nếu Chúa cứ làm phép lạ hoài, con người sẽ lười biếng, cậy dựa vào Chúa hoàn toàn, không trưởng thành được”.

* Có một lần đi sang Hoa Kỳ, nghiên cứu cơ sở để lập các chi nhánh dòng Thừa Sai Bác Ái tại quốc gia này, Mẹ Têrêsa Calcutta đã tâm sự: “Nhiều trẻ em sinh sống tại Mỹ không nghèo vật chất nhưng thật tội nghiệp, chúng lại nghèo tình thương”. Đời sống sung túc đưa con người đến tình trạng hưởng thụ quá đáng, quên cả sự hy sinh tiết kiệm để chia sẻ cho người nghèo,cộng tác với Thiên Chúa giúp thế giới này bớt đau khổ hơn.

D. Lời nguyện kết thúc:

Lạy Chúa là Thiên Chúa của tình thương,

Chúa yêu thương chúng con quá đỗi, khi tự hiến thân mình

làm Bánh Thánh Thể, bẻ ra nuôi muôn người chúng con

được no nê và được sống dồi dào.

Xin giúp chúng con luôn liên kết cộng tác với Chúa

biết dâng mọi sức lao công vui buồn cùng giọt mồ hôi nước mắt

làm của lễ dâng tiến Chúa mỗi ngày. Amen.

 

home Mục lục Lưu trữ