Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 22

Tổng truy cập: 2335181

TÌNH YÊU TIÊU CHUẨN CỦA THIÊN CHÚA

TÌNH YÊU TIÊU CHUẨN CỦA THIÊN CHÚA

 

Lm. Phêrô Nguyễn Hương

Theo quan niệm thông thường, thì ai làm nhiều sẽ hưởng tiền lương nhiều, ai làm ít thì hưởng ít. Thế nhưng câu chuyện trong Tin mừng hôm nay không như vậy. Người làm suốt ngày chỉ nhận được một đồng và người làm chỉ một giờ thôi cũng nhận được một đồng. Xem ra có vẻ bất công! Chủ vườn nho đó lại là chính Thiên Chúa. Điều này làm cho chúng ta ngạc nhiên. Ngay cả những người thợ làm từ giờ thứ nhất cũng đã lẩm bẩm trách chủ như thế là không đúng. Nhưng đó là cách thức hành động của Thiên Chúa. Thiên Chúa hành động khác với con người. Nói như ở bài đọc I là: "Vì tư tưởng của ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối của các ngươi không phải là đường lối của ta".

Vậy thì dụ ngôn chủ vườn nho nói với chúng ta điều gì?

Trước hết dụ ngôn muốn nói với chúng ta rằng: - Thiên Chúa hành xử với chúng ta phải dựa trên sự công bằng nhưng là dựa trên tình yêu. Những người làm giờ thứ nhất được trả một đồng là theo tiêu chuẩn công bằng mà họ đã thỏa thuận. Nhưng những người làm giờ cuối cũng nhận được một đồng là theo tiêu chuẩn tình yêu.

- Dụ ngôn còn muốn nhận mạnh rằng: Nước Trời, Ơn cứu độ và ân sủng không phải là phần thưởng, là công trạng do công sức chúng ta làm nên, nhưng là quà tặng, là hồng ân của Thiên Chúa cho tất cả không có loại trừ ai.

Những người do thái thời Chúa Giêsu nghĩ rằng họ là những người thợ đầu tiên đáng hưởng một đồng, nghĩa là ơn cứu độ, còn những người khác thì không xứng đáng. Chúa Giêsu mang đến một sự mới mẽ qua dụ ngôn này là: Nước Trời, ơn cứu độ được ban tặng cho tất cả, kể cả những kẻ đến sau cùng, những kẻ tội lỗi và cả những người nhỏ mọn nhất nếu họ biết lắng nghe lời mời gọi trở về và cộng tác với Thiên Chúa.

Sự "vô lý" của Thiên Chúa là cơ hội cho chúng ta

Như thế, cách thức hành động của Thiên Chúa có vẽ là ngược đời, là vô lý, khác với lí luận của chúng ta. Hay như Đức Hồng Y Thuận nói cách dí dõm là: Thiên Chúa không biết tính toán! Nhưng chính sự "vô lý" của Thiên Chúa lại là cơ hội, là lối vào đưa chúng ta tới Thiên Chúa.

Nếu Thiên Chúa chỉ xét xử chúng ta theo sự công bằng thì chắc chắn chúng ta phải chết rồi vì chúng ta đã đắc tội với Ngài, chúng ta chẳng được quyền hưởng gì, vì chúng ta chẳng có công trạng gì với Ngài.

Nhưng nếu Thiên Chúa hành xử với chúng ta theo tiêu chuẩn tình yêu và lòng từ bi của Người, thì đó lại là hy vọng, là cơ hội cho chúng ta được cứu độ.

Vì thế, bất kỳ lúc nào, dù là giờ cuối cùng, bất kỳ hoàn cảnh nào, Thiên Chúa cũng mời gọi chúng ta trở về, cộng tác với Ngài trong vườn nho của Ngài, và dù làm nhiều hay làm ít Thiên Chúa cũng ban ơn cứu độ, ân sủng cách dồi dào cho chúng ta theo lượng từ bi nhân hậu của Ngài.

Tất cả chúng ta cũng được mời gọi đi vào logic của Thiên Chúa, logic của Tinh Yêu, của lòng quảng đại. Nghĩa là hãy vươn tới tầm nhìn của Thiên Chúa, hãy mặc lấy tâm tình và cách cư xử của Đức Kitô, như thánh Phaolô hôm nay nói: "Vì đối với tôi, sống là Đức Kitô", để lượng giá cuộc đời, để nhìn đời và để đối xử với nhau cách lạc quan và vui tươi, hơn là dựa theo tiêu chuẩn tính toán, hẹp hòi ích kỷ, như những người thợ đầu tiên, thấy người khác thành công, được ưu đãi, may mắn là sinh ra ghanh tị và tìm cách đạp đổ. Vì bác ái là biết vui với người vui và khóc với người khóc.

 

35.Ông chủ tốt bụng--Lm. Giuse Nguyễn Văn Hữu

Chắc hẳn ai trong chúng ta khi nghe đọc bài Tin mừng hôm nay cũng cảm thấy bị sốc. Trên trần thế này chẳng có ông chủ nào tốt bụng như vậy, nhất là thời buổi kinh tế thị trường, chạy theo lợi nhuận hôm nay. Vì nếu các chủ nhà máy xí nghiệp mà xử sự như ông chủ vườn nho trong Tin Mừng thì chỉ có nước phá sản.

Nhưng điều Chúa Giêsu muốn diễn tả không phải là lãnh vực trần thế mà là lãnh vực Nước Trời, không phải là lãnh vực kinh tế mà là lãnh vực siêu nhiên.

Trần thế không có ông chủ nào như vậy, nhưng trên trời thì có. Đó là Thiên Chúa, “Đấng nhân hậu và từ bi, đầy kiên nhẫn và lòng thương xót, Chúa tốt lành với tất cả mọi người và yêu thương mọi kỳ công Người tác tạo” (x. Tv 144,8-9).

Ngoài đời không có, nhưng trong Giáo Hội là “vườn nho” của Thiên Chúa và là hiện thân của Nước Trời trên trần gian này thì có.

Như ông chủ vườn nho trong Tin Mừng không muốn cho ai bị thất nghiệp. Ai cũng có công ăn việc làm. Và khi làm việc thì ai cũng đủ sống. Thiên Chúa cũng thế, Ngài không muốn cho ai phải đứng ngoài Giáo Hội, Ngài muốn mọi người đều trong Giáo hội. Khi ở trong Giáo hội thì ai cũng được Chúa yêu thương và cứu chuộc, không muốn cho ai phải hư mất. Phút chót, cuối đời Chúa cũng tìm cách cứu.

Như một vài đầy tớ trong dụ ngôn không hiểu ông chủ, nên đã lên án và kết tội ông, thì trong cuộc sống nhiều khi chúng ta không hiểu tình thương của Chúa và đường lối của Giáo Hội, nên chúng ta cũng lên án Chúa và kết tội Giáo Hội.

Chúng ta lên án Chúa và kết tội Giáo Hội theo tiêu chuẩn và đường lối của thế gian, chứ không phải theo tiêu chuẩn và đường lối của Chúa:

Đường lối thế gian – mà một vài tên đầy tớ làm đại diện – là làm nhiều thì phải được trả công nhiều: “trả lương theo sản phẩm”.

Đường lối của Thiên Chúa – mà ông chủ vườn nho làm đại diện – trả công vì tình thương (nhưng không hại đức công bình), cho nên người làm ít giờ cũng được trả nhiều bằng kẻ làm suốt ngày, kẻ tin thờ Chúa trong ngày sau hết của đời mình và của thế giới cũng được hưởng hạnh phúc Nước Trời như những người tin thờ Chúa từ thuở sơ khai hay từ thuở mới sinh.

Đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa thì siêu vượt hơn đường lối và tư tưởng của người phàm: “Tư tưởng của Ta không giống tư tưởng các ngươi và đường lối Ta không giống đường lối các ngươi. Như trời xanh cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi bấy nhiêu” (Is 55,5-6).

Khi chúng ta dùng đường lối và tư tưởng của thế gian mà lên án Thiên Chúa và kết tội Giáo Hội, là chính chúng ta tự bêu xấu và vạch tội chúng ta, giống như những tên đầy tớ ghen tỵ trước nghĩa cử tốt lành của ông chủ vườn nho, đã phơi trần sự độc ác nhỏ nhen, ích kỷ của chúng. Cho nên trong cuộc sống ta cần phải suy nghĩ thấu đáo đừng vội vàng đưa ra những lời nhận xét, vì: Có những lời nói, việc làm của ta để lại tiếng thơm muôn đời, nhưng cũng có những lời nói việc làm của ta để lại tiếng xấu muôn đời. Có những việc làm như là tấm huy chương khen ngợi ta, nhưng cũng có những việc làm như là văn bia tố cáo tội ác chúng ta như cổ nhân đã từng nói: “Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn bia miệng vẫn còn trơ trơ”.

Lạy Chúa, xin cho con thấm nhuần tình thương và đường lối của Chúa, để con luôn vui mừng phấn khởi, chứ không ghen ăn tức ở trước những ơn lành Chúa đã thương ban cho anh chị em con trong cuộc sống. Amen.

 

36.Chúa Nhật 25 Thường Niên--Lm. Augustine, SJ.

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng

Ðức ái không có biên giới

Sinh năm 1929 trong một gia đình trung lưu Nhật Bản, tương lai của cô Satôcô như đã được sắp đặt sẵn. Là một người nhất mực bảo thủ với các truyền thống trong gia đình Nhật, cha của Satôcô, cũng là một tiến sĩ nông học, đã muốn giáo dục cô theo tiêu chuẩn của các thiếu nữ con nhà thượng lưu thời ấy: trung thành với Nhật hoàng; tòng phục cha mẹ; học những phong cách và lễ nghi quý phái để sau này phục dịch một đức lang quân do cha mẹ sắp xếp. Thế nhưng cha cô có ngờ đâu rằng, một ngày kia, con gái ông sẽ vượt ra khỏi khuôn khổ gia đình ấy.

Năm 1941, Nhật khai chiến với Mỹ. Cha của Satôcô bị động viên vào quân đội; còn cô và em trai bị ép buộc vào làm việc ở một hãnh chế tạo máy bay. Năm 1945, khi chiến tranh kết thúc, cô ngã bệnh lao vì kiệt lực; còn em trai cô đã chết trước đó cũng vì lao lực. Năm 1946, cô vào học trường Dược ở Tôkyô. Một ngày nọ, đang lúc đi dạo ngoài bãi biển, Satôcô bị cuốn hút chú ý đến hai Nữ Tu Thừa Sai Bỉ. Tuy không là người công giáo, nhưng một động cơ nào đó đã thúc đẩy cô theo chân hai nữ tu vào trong một nhà thờ. Vẻ đẹp của gương mặt bức tượng Ðức Nữ Ðồng Trinh như xoáy vào tim cô. Trở về nhà, cô đã học đạo với các Nữ Tu Thừa Sai và được rửa tội năm 1949. Ðó cũng là năm cô đậu bằng dược sĩ.

Thời ấy, có một thừa sai Phanxicô người Ba Lan tên là Thầy Ðô (Deno Sebroski), hoạt động nổi tiếng cho người nghèo ở khu ổ chuột Annê, ngoại ô Tôkyô. Cùng với một nhóm tu sĩ Ba Lan do thánh Maximilianô Kôlbê (sau tử đạo trong trại tập trung Ðức quốc xã) hướng dẫn, Thầy Ðô đã đến Nagasaki từ năm 1930. Vì những hoạt động nhân đạo nổi tiếng của Thầy, Thầy là người ngoại quốc duy nhất không bị bắt giữ trong chiến tranh, mà còn được chính Nhật hoàng ban thư giới thiệu, kêu gọi mọi người hãy giúp đỡ Thầy. Khi nghe biết về Thầy Ðô, Satôcô đã nói với cha cô: "Nếu những người Ba Lan từ xa xôi đến Nhật để tận hiến cuộc đời phục vụ người nghèo, tại sao các tín hữu Nhật không thể làm như thế?" Thế là Satôcô đã đến gặp Thầy Ðô và xin đi thăm khu Annê. Ðêm hôm đó, cô không sao chợp mắt vì đầu óc miên man với hình ảnh những con người bất hạnh cô gặp ở Annê. Hơn nữa, gương mặt cũa vị tu sĩ già, lúc nào cũng ánh lên lòng thương xót và ý chí sắt đá phục vụ người nghèo, trở nên một thách thức đối với cô.

Sống chết với người nghèo

Khi thức giấc sáng hôm sau, Satôcô đi đến một quyết định táo bạo là phục vụ người nghèo mà không cần biết hậu quả sẽ ra sao. Công việc đầu tay của cô ở Annê là tổ chức lễ Giáng Sinh năm 1950 cho trẻ em. Sau đó cô vẫn tiếp tục sinh hoạt đều đặn với các em: dạy học, chăm sóc, nghe các em tâm sự về hoàn cảnh gia đình. Tuy thế, người dân Annê chưa tin tưởng cô. Họ nghĩ rằng cô tiểu thư nhà giàu ấy không sống cho họ, nhưng chỉ vì Chúa; cô yêu Chúa chứ thương yêu gì họ. Hơn nữa, người dân Annê tuy nghèo nhưng luôn hãnh diện về khả năng sinh sống nhờ thu lượm đồ phế liệu chứ không muốn nhận của bố thí. Ðể chứng tỏ lòng thành thật của mình, Satôcô bắt đầu đi lượm ve chai và đồ phế liệu, để kiếm quĩ tổ chức các sinh hoạt cho trẻ. Dần dần, cô đã cảm hóa được những người lớn nhờ sự đơn sơ, vui vẻ và nhờ tình thương chân thành cô dành cho con em họ. Chính người lãnh đạo cộng đoàn Annê tặng cô chiếc xe đẩy để công việc thu lượm phế liệu của cô được dễ dàng hơn. Mỗi lần cần món tiền lớn để tổ chức những sinh hoạt đặc biệt như đi nghỉ hè, Satôcô thường cầu khẩn Mẹ Maria và luôn kiếm được số tiền cần thiết. Những hoạt động từ thiện của cô đã gây tiếng vang, đến độ tên tuổi cô xuất hiện cả trên báo chí và truyền hình.

Một lần nọ, cộng đoàn Annê muốn mua lại của thành phố một thửa đất lớn để qui hoạch lại khu phố với một trung tâm hướng nghiệp, một nhà thờ và một công viên. Tuy nhiên số tiền 25 triệu yên vượt quá sức của cộng đồng. Nhân cuộc họp thương lượng lần cuối của lãnh đạo cộng đồng với chính quyền thành phố, Satôcô đã trao cho phía chính phủ cuốn sách "Những trẻ em ở khu ổ chuột Annê" mà cô viết 4 năm trước đó; đồng thời cô cầu nguyện cật lực cho dự án này. Sau này khi cân nhắc lại, chính quyền đã đồng ý nhượng khu đất với giá 15 triệu, trả góp trong 5 năm.

Vì làm việc quá sức, lại ăn ngủ thất thường, nên chứng bệnh lao mang lúc 15 tuổi nay quay lại đòi mạng Satôcô. Cô đã dâng căn bệnh cho Chúa để cầu nguyện cho người dân Annê có được cuộc sống tươi đẹp hơn. Ngày 20.1.1958, khu phố mới Annê được khánh thành. Ba ngày sau, "Satôcô của khu ổ chuột Annê" qua đời ở tuổi 29. Trong những ngày cuối đời, cha mẹ cô đã đem cô trở lại Annê, để cô qua đời tại nơi cô hằng yêu mến (viết theo Mẫu Gương Thánh Thiện, trang 131-142)

Thiên Chúa giàu lòng thương xót

Tấm gương của cô Satôcô và Thầy Ðô hẳn làm chúng ta phải cảm phục. Ðể có thể làm những cử chỉ bác ái như thế, ắt các vị phải có một lòng thương cảm con người sâu xa và một đức tin mạnh mẽ vào Chúa. Thật ra, chính Thiên Chúa đã đi bước trước và là mẫu gương cho nhân loại về lòng thương xót vượt qua mọi rào cản; Ðấng ban Thánh Thần trong con tim mọi người, đã khơi dậy nơi họ lòng yêu thương, xả kỷ, hướng đến tha nhân. Dụ ngôn ông chủ vườn nho hôm nay là một mạc khải của Ðức Giêsu về Thiên Chúa Cha giàu lòng thương xót.

Thật vậy, ông chủ vườn nho ấy đã cư xử với lòng thương xót chứ không theo lối "công bằng sòng phẳng" như người đời. Với lòng thương xót, ông đã đi tìm những con người khốn khổ để giúp họ có được những thứ cần thiết cho cuộc sống. Trong dụ ngôn, những người khốn khổ đó là những người thợ không kiếm được việc làm. Không như những chủ vườn khác chỉ ra kêu đủ số thợ một lần vào sáng sớm, ông đã ra ngoài kiếm họ những 5 lần. Ðiều khó hiểu là mãi đến giờ thứ 11 ông còn ra kêu thợ vào làm chỉ một giờ; trong khi dụ ngôn không có dấu chỉ nào cho thấy có công việc đột xuất cần thêm thợ. Ðiều đó chỉ có thể được cắt nghĩa như sau: đích nhắm của ông chủ không là những công việc, nhưng là, những con người khốn kho堣ần bán sức lao động để kiếm sống hàng ngày. Chính vì vậy mà ông bận tâm nhiều đến những người thợ mà mãi đến giờ thứ 6, 9, 11 hãy còn thơ thẩn ngoài chợ, chưa được ai tuyển dụng; và ông đã ra ngoài những 5 lần.

Hơn thế, việc ông trả lương đồng đều: một quan tiền cho mọi người thợ [số tiền cần thiết để nuôi sống một gia đình trong một ngày], càng cho thấy rõ nét hơn rằng việc tuyển dụng chỉ là "cái cớ" để ông chủ nhân hậu giúp đỡ những người thợ ít mau mắn. Tuy nhiên, lối cư xử đầy thương xót của ông đã vấp phải những lời dị nghị của những con người vốn chỉ quen với thứ công bằng gắt gao đầy vị kyhứ công bằng này thẳng tay gạt ra ngoài những kẻ yếu thế, không đạt điều kiện của luật chơi "tiền có trao, cháo mới múc". Trong khi đó, lòng thương xót thì vượt xa lẽ công bằng: nó không chiết tính sự tương xứng giữa "cái cho" và "cái nhận", cũng không nghĩ đến chuyện thiệt hơn; nhưng nhìn thẳng vào sự khốn cùng của con người, rồi lao mình cứu giúp họ một cách nhưng không, hoàn toàn vô điều kiện, bất chấp lời đàm tiếu, bất chấp mọi rào cản. Tóm lại, lòng thương xót là hình thức công bằng thượng đẳng, vì nó nhằm đem đến cho mọi người, từ những người bé mọn nhất, một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm con cái Thiên Chúa.

Ðó chính là cách thức mà Thiên Chúa đã hành xử với toàn thể nhân loại, khi Người ban Con Một đến chịu chết để cứu độ mọi người, bất kể họ là Do Thái hay dân ngoại; đạo đức hay tội lỗi; bất kể họ trở lại với Chúa vào thời điểm nào của cuộc đời họ: dù là "rất sớm" như một số vị thánh, hay chỉ vào giờ phút cuối cùng; giờ thứ 11, như trường hợp người trộm lành.

Nước Trời giống như gia chủ kia,... đã cư xử với lòng thương xót đối với tất cả mọi người, từ người sau hết đến người trước hết. Ðể được thuộc về Nước Trời đó, mỗi người chúng ta cũng được mời gọi theo gương ông chủ, và những người đi trước như Thầy Ðô và cô Satôcô, cư xử với mọi người bằng một lòng nhân từ thương xót, vượt trên mọi rào cản sắc tộc, tôn giáo, chính kiến, giai cấp xã hội... và đôi lúc, phải vượt xa cả những nguyên tắc luân lý thông thường.

Một số câu hỏi gợi ý

1. Theo bạn, ông chủ vườn nho có bất công hay thiên vị không? Bạn có thể bào chữa cho ông như thế nào?

2. Tại sao sống công bằng là cần thiết, nhưng chưa đủ? Tại sao cần phải có cả lòng thương xót?

3. Bạn có biết mẫu gương nào về lòng thương xót tại Việt Nam, tương tự mẫu gương của Thầy Ðô và cô Satôcô không?

 

home Mục lục Lưu trữ