Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 17

Tổng truy cập: 2335174

THIÊN CHÚA ĐẤNG XÉT XỬ KHOAN DUNG

THIÊN CHÚA ĐẤNG XÉT XỬ KHOAN DUNG

 

Lm. JB. Lê Ngọc Dũng

Câu chuyện dụ ngôn thợ làm vườn nho ở phần cuối quả là bất thường. Nó bất thường ở chỗ người bắt đầu làm từ sáng sớm cũng được trả một quan tiền, bằng người vào làm lúc trưa và ngay cả bằng người vào làm lúc chiều. Nó bất thường nên các người thợ làm từ sáng sớm cảm thấy bất công, vì họ tưởng họ đáng lý phải được lãnh nhiều hơn.

Dụ ngôn, vì vậy chỉ cho thấy sự so sánh ganh tỵ của con người và lòng bao dung quảng đại của Thiên Chúa.

Bạn có thói ganh tỵ không? Chắc là bạn sẽ trả lời là không. Tuy nhiên, điều chắc chắn mỗi người chúng ta đều có; đó là sự so sánh hơn thua.

Trong lớp học, chắc học sinh nào cũng muốn học giỏi hơn người khác. Trong làm ăn buôn bán, ai cũng muốn phát đạt hơn người khác. Ngay cả một tu sĩ cũng muốn mình đạo đức thánh thiện hơn người khác. Rõ ràng là sự so sánh và muốn hơn người là một điều tốt. Nó là động lực mà Thiên Chúa đặt để nơi lòng con người để con người vươn lên.

Tuy nhiên, nhiều khi so sánh mình với người khác lại trở thành nguồn gốc cho tội lỗi, nghĩa là, nó dẫn ta đến phạm tội.

Xin kể câu chuyện giả tưởng như sau:

Bạn là chủ hộ một căn nhà trị giá 1 tỷ. Một người đến đề nghị mua nhà bạn với giá 2 tỷ. Bạn thật là vui mừng và đồng ý bán ngay.

Ngày hôm sau, bạn nghe nói rằng hai ngôi nhà kế cận, chỉ trị giá 700 triệu và 500 triệu, cũng đã được ông chủ đó mua với giá 2 tỷ, ngang bằng với giá ông đã mua nhà bạn. Thật là tin sét đánh đối với bạn. Nhà bạn to lớn sang trọng ông ấy đã mua 2 tỷ. Hai nhà hàng xóm kia, nhỏ hẹp, chỉ đáng giá mấy trăm triệu mà ổng cũng mua 2 tỷ. Bạn liền giận dữ, gọi điện thoại cho người mua nhà và phiền trách ông ta về việc ấy. Ông ta liền trả lời: Tôi có làm gì phỉnh gạt anh đâu? Tôi muốn mua giá cao là tùy ở  tôi chứ?

Trong dụ ngôn, những người làm từ sáng sớm, đã cằn nhằn với chủ nhà, có vẻ như chỉ trích chủ nhà là bất công. Họ nói: “Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt”.

Cũng nên nhắc lại, tội lớn nhất của thế giới thần linh có động cơ từ tội ganh tỵ. Tổng lãnh Thiên Thần Lucipher vì ganh ty rồi kiêu ngạo, không muốn tùng phục Thiên Chúa. Họ chống Thiên Chúa đến cùng. Lucipher hay Satan không muốn chịu thua Thiên Chúa, biểu lộ tội ghen ty cho đến cùng. Tội nguyên tổ, cũng có động cơ từ sự ghen tỵ. Ông bà nguyên tổ đã ganh tỵ với Thiên Chúa, muốn biết lành biết dữ như Thiên Chúa nên đã phạm lệnh Chúa, ăn trái cấm. Và rõ ràng nhất, tội Cain giết em là Ebel. Tội này xảy ra cũng là vì sự ganh tỵ.

Làm sao để chúng ta thoát khỏi cái tính so sánh ganh tỵ, tránh xa được tội?

Để tránh được sự ghen tỵ đó, chúng ta phải nhận ra rằng, Thiên Chúa là ông chủ, có quyền cho ai bao nhiêu tùy ý của Ngài. Và chắc chắn rằng, Ngài chẳng bao giờ bất công. Chúng ta phải xác định rằng, ông Chủ vườn nho, hình ảnh của Thiên Chúa, không bao giờ bất công.

Điều kế tiếp là ta phải đánh giá theo những tiêu chuẩn của Thiên Chúa chứ không phải theo tiêu chuẩn của thế gian. Nếu chúng ta đánh giá theo tiêu chuẩn của Chúa thì chúng ta sẽ khám phá ra mình cũng không thua kém kẻ khác.

Thử hỏi: phải chăng có quyền lực là sung sướng, có tiền bạc giàu sang là sung sướng, có đẹp đẻ là hạnh phúc, là hơn kẻ khác?

Nhiều khi những hoàn cảnh tốt đẹp, giàu có, danh vọng lại gây tai hại cho chúng ta. Những người thợ được có việc làm ngay từ sáng sớm có vẻ là may mắn. Nhưng điều xấu xảy ra cho những người thợ này là ra khi ra về thì lòng họ đầy oán hận trách móc ông chủ. Về đến nhà gặp vợ con với nét mặt buồn bã và bực dọc, trút ra những lời khó nghe.

Nhiều khi sự khó khăn bi thảm, như nghèo đói bệnh tật, xấu số lại là một hoàn cảnh tốt cho chúng ta. Chắc hẳn những người thợ bị thất nghiệp đến giờ cuối sẽ vui mừng và biết ơn ông chủ. Về đến nhà gặp vợ con với nét mặt hân hoan sung sướng, chia sẽ niềm vui mình vừa được.

Đánh giá theo Thiên Chúa, khác đánh gía theo thế gian đã được Thánh Phaolô biểu lộ trong thư gởi tín hữu Corintô, khi ngài nói: “Thiên Chúa đã cố ý chọn những gì mà thế gian xem là vô nghĩa để làm bẻ mặt những người thông thái, và Ngài chọn những gì thế gian cho là yếu nhược để những kẻ có thế lực phải hổ thẹn. Ngài đã chọn điều thiên hạ chê bai, khinh khi, bị liệt vào hạng không ra gì, để tiêu hủy những gì thiên hạ cho là quan trọng” (1Cr 1,27-28).

Vì vậy, để tránh những lỗi phạm do sự so sánh ghen tỵ, cần phải tin tưởng Thiên Chúa là người cha nhân từ, luôn săn sóc chúng ta. Ngài không bao giờ để con cái Ngài bị thua thiệt thiếu thốn. Ngài rất công bằng nhưng cũng rất khoan dung, rộng tay ban phát. Điều Ngài ban phát, tuy nhiều khi ta không đáng giá được giá trị thực của nó, là hơn hay kém người khác, nhưng chắn chắn là vượt xa công trạng của mỗi người.

 

14.Đường lối của Chúa--Lm. Xuân Hy Vọng

Kinh nghiệm nói cho chúng ta biết rằng: nhiều lần trong đời sống đức tin, chúng ta tự hỏi liệu Thiên Chúa nhìn và đánh giá chúng ta thế nào nhỉ? Thiên Chúa có thiên vị? Ngài bênh đỡ người khác, bỏ mặc tôi? Ngài thương người khác hơn tôi? và rất nhiều câu chất vấn khác nữa…

Các bài đọc Phụng vụ hôm nay cho chúng ta một câu trả lời đầy thuyết phục từ lời ngôn sứ Isaia “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta” (Isa 55, 8). Thật vậy, Thiên Chúa nhìn và đánh giá chúng ta không như người đời. Ngài không căn cứ vào bằng cấp, sự danh giá, quyền bính, thành tựu, địa vị, quyền cao chức trọng, của cải của ta mà nhận xét, phán quyết. Thiết nghĩ, Thiên Chúa tôn trọng bạn và tôi là những người con yêu quý,’độc nhất vô nhị’ của Ngài. Ngài thỏ thẻ bên tai chúng ta, mời gọi, thúc giục chúng ta bằng lời nói yêu thương, không hề vướng bợn định kiến hay xét đoán. Tuy nhiên, lắm lúc chúng ta không nhận ra điều này, phải chăng vì trong chúng ta tiềm ẩn lối suy nghĩ thiển cận, vội vã như những người được kêu mời làm vườn ở giờ đầu tiên “những người đến sau hết chỉ làm có một giờ, còn chúng tôi chịu nắng nôi khó nhọc suốt ngày mà ông kể họ bằng chúng tôi sao?” (Mt 20, 12). Hay là do sự hoán đổi cách nhìn nhận, coi trọng giá trị mà xã hội thực dụng, văn hoá’ăn liền’, trào lưu’rẻ rúng, chóng qua’ mang lại, ảnh hưởng sâu đậm đến lối nhìn, suy nghĩ, đánh giá của chúng ta đối với tha nhân, cũng như thay đổi cách nhìn của chúng ta đối với Thiên Chúa, Đấng dựng nên ta chăng!

Thứ đến, Thiên Chúa có lẽ chẳng trông mong những gì chúng ta kỳ vọng! Thực tế, qua những câu chuyện trong Kinh Thánh, chúng ta thấy Thiên Chúa coi trọng những người nghèo khó, nghề nghiệp tuy thấp kém nhưng có tâm hồn luôn biết tìm kiếm Chúa (x. 1Sm 16), viên đại đội trưởng với thái độ khiêm tốn thể hiện lòng tin mạnh mẽ vào Chúa Giê-su (x. Lc 7, 1-10), bà goá tuy nghèo túng, nhưng cho đi một cách quảng đại tất cả những gì bà có, trong khi những người giàu có, chỉ cho đi những đồng bạc dư thừa (x. Lc 21, 1-14), v.v... Đường lối của Chúa chẳng ai thấu hiểu được, và cách thức của Người không bao giờ dựa trên những vẻ sa hoa, bề ngoài. Ngài chẳng màng đến sơ yếu lí lịch hào nhoáng, hay những thành tựu của ta. Nói như vậy, không có nghĩa là Thiên Chúa bỏ mặc những người thành đạt, những ai có công việc cao cả, hoặc những người giàu sang biết cho đi một cách quảng đại và thành tựu của bạn và tôi không có ích gì trong việc tôn vinh Chúa. Mà đúng hơn, chúng ta không nên tự cho mình đang đứng đầu trong việc tôn vinh Chúa nhờ những thành đạt hay công trạng mình đạt được. Theo lẽ trật tự Thiên Chúa đặt ra, bạn và tôi không nhất thiết phải đứng hàng đầu “kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết” (Mt 20, 16) Đối với Chúa, “ngàn năm trôi qua như thể một ngày, và một ngày dài thăm thẳm như thể ngàn năm” (x. Tv 90, 4; 2Pr 3, 8), quá khứ hay tương lai dường như không hiện diện trong chương trình của Chúa, mà hơn hết, sống giây phút hiện tại’bây giờ và nơi đây’ (hic et nunc) mới thực sự cấp bách và cần kíp như câu danh ngôn sau: “đừng âu sầu, não nề, khóc than về quá khứ vì mọi thứ đều đi qua, cũng đừng mơ tưởng về tương lai vì nó chưa đến. Hãy sống trọn vẹn và biến giây phút hiện tại thành khoảnh khắc tươi đẹp hơn”.

Nếu bạn có những băn khoăn, không cảm thấy hạnh phúc về bản thân hoặc về những thành tựu đạt được, hay tự vấn không biết Chúa nhìn và đánh giá cuộc đời bạn thế nào, thì xin bạn cùng tôi nhớ rằng: 

 

* Chúa hết mực yêu thương con cái của Ngài như người cha hằng hy sinh cho những đứa con mình một cách liên lỉ, vô điều kiện. Ngài nhìn bạn và tôi không ngoài điều gì khác ngoài một tình yêu vô hạn. Ngài cũng rất tự hào khi nhìn thấy những lựa chọn khôn ngoan và trưởng thành mà chúng ta đã và đang thực hiện trong dòng đời đầy biến chuyển này;

* Ngài nhìn thấy tâm hồn vâng phục của chúng ta, một tâm hồn đơn sơ, trung thành phó thác vào Ngài, ngay cả những lúc thất vọng ê chề, chán chường dường như mọi thứ chung quanh ta là bầu trời tối đen mịt mù không lối thoát;

* Chúa nhìn thấy cuộc sống hy sinh mà chúng ta dành cho Ngài và cho tha nhân qua biết bao lần ta dấn thân ngay cả khi phải trả giá; Ngài nhìn thấy ta sẵn sàng bước theo Ngài, tín thác vào chương trình cứu độ mà Ngài dành cho ta, thậm chí khi bạn và tôi không thể nhìn thấy rõ con đường phía trước hoặc đích điểm cuối cùng của đường đời;

* Chúa nhìn thấy tâm hồn quảng đại của bạn và tôi, sẵn sàng chia san, sẵn sàng quên mình và cho đi vì tha nhân. Luôn đặt công ích, lợi ích của cộng đoàn lên trên tư lợi; Ngài nhìn thấy ta khiêm tốn, sẵn lòng đón nhận ngọn lửa tinh luyện để ta được thanh luyện, tẩy sạch bợn nhơ và trở nên tinh tuyền, thánh thiện hơn;

* Chúa nhìn thấy ta mạnh mẽ trong đức tin, mặc dù bản thân ta cảm thấy yếu đuối. Ta đã trung thành với ơn gọi làm con của Ngài mặc dầu bao thử thách, chông gai giăng bẫy trên đường đời; Ngài nhìn thấy chúng ta là sứ giả Tin Mừng, là chứng nhân mang thông điệp tình yêu của Ngài đến với mọi người để họ cũng có thể tìm thấy nguồn vui ơn cứu độ.

Lạy Chúa, Ngài nhìn cuộc sống của chúng con khác với cách thế gian. Ngài thấu rõ những giá trị thật sự nơi cuộc sống của con mà những người khác có thể không để ý đến hoặc không nhìn thấy. Phẩm chất làm nên tính cách đóng góp cho cuộc sống của anh chị em chúng con và sẽ còn mang âm hưởng cho những biến chuyển lớn lao trong đời sống đức tin của chúng con. Xin ban cho chúng con đôi mắt biết hướng nhìn lên Chúa, và biết nhìn về phía tha nhân!

 

15.Chúa Nhật 25 Thường Niên--Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXV năm A này xoay quanh một chủ đề: lòng từ bi, nhân hậu, rộng lượng và hay tha thứ của Chúa đối với muôn loài mà Ngài đã dựng nên, nhất là con người.

Is 55: 6-9

Ngôn sứ I-sai-a đệ nhị loan báo cuộc giải thoát sắp đến và kêu mời những người lưu đày ở Ba-by-lon thật lòng hoán cải ngỏ hầu được Thiên Chúa thứ tha và cứu thoát, vì tư tưởng của Thiên Chúa không là tư tưởng của phàm nhân, đường lối của Thiên Chúa không là đường lối của con người.

Pl 1: 20-24, 27

Trong đoạn trích thư gởi tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô đang sống trong cảnh giam cầm, bị giằng co giữa đôi ngã: hoặc bị tuyên án tử, như thế được ra đi để được ở với Chúa; hay được phóng thích để tiếp tục sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Thánh nhân phó thác số phận của mình vào lòng nhân hậu của Chúa.

Mt 20: 1-16

Qua dụ ngôn “thợ làm vườn nho”, Đức Giê-su viện dẫn tấm lòng nhân hậu của Thiên Chúa vượt quá sự công bằng giao hoán mà con người đòi hỏi. Một lần nữa, Tin Mừng nhấn mạnh rằng tư tưởng của Thiên Chúa không là tư tưởng của phàm nhân, đường lối của Chúa không là đường lối của con người.

BÀI ĐỌC I (Is 55: 6-9)

Đoạn trích dẫn này là một trong những sứ điệp sau cùng mà ngôn sứ I-sai-a đệ nhị gởi đến những người Do thái lưu đày ở Ba-by-lon vào khoảng những năm 545-540 trước Công Nguyên, họ đang mong chờ ơn giải thoát, nhưng vài người trong số họ nghi ngờ và nhụt chí. Trong bối cảnh như vậy, ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, tác phẩm của ông được gọi “Sách An Ủi” (ch. 40-55), khẩn thiết loan báo những chủ đề hy vọng; ông nhấn mạnh niềm tin vào một Thiên Chúa rộng lòng tha thứ, một Thiên Chúa toàn năng, Ngài có thể làm bất cứ điều gì mà Ngài muốn.

1. Thiên Chúa rộng lòng tha thứ

Thời gian cứu độ sắp tới phải là thời gian của cầu nguyện và hoán cải:

“Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp,

kêu cầu Người lúc Người ở kề bên” (Is 55: 6).

Phải chăng Thiên Chúa vẫn hiện diện bên cạnh dân Ngài trong cảnh lưu đày còn gần gũi hơn khi Ngài còn ngự giữa họ trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem? Năm mươi năm đã trôi qua kể từ cuộc phát lưu đầu tiên vào lúc ngôn sứ Giê-rê-mi-a viết cho những người lưu đày hầu như theo cùng một cách diễn tả: “Các ngươi sẽ tìm Ta, và các ngươi sẽ thấy, bởi vì các ngươi sẽ hết lòng kiếm Ta, Ta sẽ cho các ngươi được gặp. Ta sẽ đổi vận mạng của các ngươi và sẽ thu họp các ngươi về từ khắp các dân, từ mọi nơi Ta đã xua các ngươi đến” (Gr 29: 13-14).

Hoán cải không gì khác hơn là tránh xa điều gian ác. Lời kêu gọi thay lòng đổi dạ là sứ điệp thường hằng của truyền thống ngôn sứ. Đối với ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, cuộc trở về Giê-ru-sa-lem phải cùng chung nhịp bước với cuộc trở về với Thiên Chúa.

“Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo,

người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có

mà trở về với Đức Chúa – và Người sẽ xót thương -,

về với Thiên Chúa chúng ta, vì Người rộng lòng tha thứ” (Is 55: 7)

Động từ “tha thứ” này được dùng trong Cựu Ước chỉ với Thiên Chúa là chủ từ, vì sự tha thứ này không có cùng mức độ nào với sự tha thứ của con người. Động lực tột cùng của niềm tin tưởng này mà những người lưu đày phải thấm nhuần đó là:

“Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi,

và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55: 8).

Tư tưởng của Thiên Chúa cao vời trên cõi trời cao thẳm, trong khi tư tưởng của con người ở dưới tận chốn đất thấp. Làm thế nào đầu óc nhỏ bé của phàm nhân có thể hiểu được đường lối cao vời khôn ví của Thiên Chúa được chứ? Bởi vậy, mỗi khi con người nghĩ rằng tội lỗi của mình quá nặng nề không thể nào tha thứ được, thì Thiên Chúa mặc khải cho họ biết rằng Ngài vô cùng độ lượng, rộng lòng tha thứ và sẵn lòng đón nhận những kẻ tội lỗi khi họ cất bước trở về với Ngài, cũng như Ngài sẵn lòng trả công bội hậu vượt quá công sức của con người.

2. Thiên Chúa siêu việt và toàn năng

Ngôn sứ I-sai-a kết thúc sứ điệp của mình bằng cách nhắc nhở rằng Thiên Chúa là Đấng siêu việt và toàn năng:

“Trời cao hơn đất thấp chừng nào

thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối của các ngươi,

và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy” (Is 55: 9).

Ngôn sứ I-sai-a kết nối sự cao cả của Thiên Chúa với lượng hải hà tha thứ của Ngài. Con người nhỏ bé và mỏng dòn, bởi vì tất cả chúng ta là những tội nhân, còn Thiên Chúa thì cao vời khôn ví, bởi vì Ngài ôm ấp trong lòng những tư tưởng cứu độ. Các tác giả thánh vịnh cũng đã sử dụng hình ảnh về “trời cao đất thấp” để đánh dấu khoảng cách vô tận giữa con người và Thiên Chúa, như Tv 145 (144) mà Phụng Vụ mời gọi chúng ta cất cao lời chúc tụng Đức Chúa hôm nay:

“Chúa thật cao cả, xứng muôn lời chúc tụng,

Người cao cả khôn dò khôn thấu” (Tv 145: 3).

Đây là ‎ý tưởng truyền thống mà Đức Giê-su dạy cho chúng ta trong kinh Lạy Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”.

BÀI ĐỌC II (Pl 1: 20-24, 27)

Thành Phi-líp-phê thuộc miền Ma-kê-đô-ni-a là thành phố Châu Âu đầu tiên đón nhận sứ điệp Tin Mừng. Thánh Phao-lô đã mạo hiểm loan báo Tin Mừng trên lục địa này. Ở thành phố này, các cộng đoàn Do thái thì thưa thớt, vì thế một đám thính giả đông đảo lắng nghe thánh nhân chắc hẳn đa số là lương dân. Vào năm 49 hay 50, kể từ khi đặt chân đến thành Phi-líp-phê, thánh nhân luôn luôn dành cho các tín hữu này một ân tình tròn đầy. Như chúng ta biết thánh Phaolô đã không muốn đón nhận sự trợ giúp của bất kỳ cộng đoàn tín hữu nào, ngỏ hầu Tin Mừng mà thánh nhân rao giảng là một ân ban nhưng không. Tuy nhiên, thánh Phaolô chỉ đón nhận sự giúp đỡ của các tín hữu Phi-líp-phê, vì thánh nhân muốn bày tỏ tấm lòng ưu ái của Ngài dành cho họ.

1. Hoàn cảnh của thánh Phao-lô khi viết thư gởi tín hữu Phi-líp-phê

Thư gởi tín hữu Phi-líp-phê, chúng ta sẽ tiếp tục đọc nhiều trích dẫn bức thư này trong nhiều Chúa Nhật kế tiếp, chứa đựng một chứng liệu đặc biệt. Hơn bất kỳ thư nào khác, thư gởi tín hữu Phi-líp-phê này vén mở cho chúng ta con người nội tâm của thánh Phao-lô, những đức tính và trọn một cuộc đời gắn bó vào Đức Ki-tô. Vốn tính tình bộc trực, ấy vậy những lời khuyên bảo của thánh nhân lại nồng nàn chan chứa những niềm tin tưởng vô bờ.

Khi thánh Phao-lô viết bức thư này, ngài đang sống trong cảnh giam cầm, có thể ở Ê-phê-xô, vào năm 55 hay 56. Thánh nhân không biết số phận đang chờ đợi ngài: hoặc bị kết án tử và như thế được ở với Đức Ki-tô, hay được phóng thích và lại tiếp tục sứ vụ loan báo Tin Mừng của ngài, thánh nhân chỉ còn biết nguyện ước. Sự giằng co đôi đàng, mà thánh nhân trình bày trong đoạn văn này, không là thế đôi ngã mà thánh nhân có quyền chọn lựa nhưng là thuận theo thánh ý của Thiên Chúa. Rõ ràng thánh nhân nhắm đến thế đôi ngã này ở nơi lời kết luận ngay từ đầu đoạn thư trích dẫn: “Đó là điều tôi đợi chờ và hy vọng. Sẽ không có gì làm cho tôi phải hổ thẹn, trái lại tôi hoàn toàn vững tin. Bây giờ cũng như mọi lúc, Đức Giê-su sẽ tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi, dù tôi sống, hay tôi chết” (Pl 1: 20).

2. Chết là một mối lợi

Bị giằng co giữa hai giải pháp khả dĩ: chịu chết hay được phóng thích, hiển nhiên thánh nhân thích được chết hơn: “Vì đối với tôi, sống là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợi… ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Ki-tô, điều này tốt hơn bội phần”. Thánh nhân đã xác định rồi mục đích của cuộc đời mình: “sống là Đức Ki-tô”. Ở bên kia cái chết, thánh nhân được nên một với Đức Ki-tô cách trọn vẹn hơn.

Nếu thư gởi tín hữu Phi-líp-phê này được viết giữa hai bức thư gởi tín hữu Cô-rin-tô, như ngày nay người ta có khuynh hướng nghĩ như vậy, thì thánh Phao-lô hoàn thành tư tưởng của mình trong thư thứ hai gởi tín hữu Cô-rin-tô: “Vậy chúng tôi luôn mạnh dạn, và chúng tôi biết rằng: ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa… Vậy, chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (2Cr 5: 6-8).

Trong đoạn trích thư Cô-rin-tô này, tư tưởng của thánh Phao-lô rõ ràng nhuốm màu sắc “nhị nguyên thuyết” của tư tưởng Hy lạp; tuy nhiên, tất cả các thư khác của thánh nhân đều làm chứng rằng thánh nhân không hoàn toàn chấp nhận khía cạnh tiêu cực của triết lý Hy lạp này, tức là khinh bỉ thân xác. Trái lại, Vị Tông Đồ dân ngoại ca ngợi thân xác này là “Đền Thờ của Chúa Thánh Thần” và sẽ được sống lại vào ngày sau hết. Thánh nhân luôn luôn nhắm đến một sự hiệp nhất trọn vẹn với Đức Ki-tô sau khi chết; tuy thế, thánh nhân cũng không ngừng nói rằng sự hiệp nhất này vốn đã khởi sự ngay từ cõi thế này rồi. Cuộc sống của người Ki-tô hữu vốn là đã được Đức Kitô sở hữu rồi, là nơi Chúa Thánh Thần cư ngụ cùng với chúng ta. Thần học của Giáo Hội tiếp nối thần học của thánh nhân trên lộ trình này. Cái chết không làm gián đoạn cuộc sống của chúng ta trong Đức Ki-tô.

3. Niềm say mê loan báo Tin Mừng.

Nhưng thánh nhân bị giằng co đôi ngã. Dầu rằng thánh nhân mong ước được ra đi để được ở với Đức Kitô, tuy nhiên thánh nhân nói với các tín hữu Phi-líp-phê thân yêu của ngài: “Ở lại đời này thì cần thiết hơn, vì anh em”. Vả lại, thánh nhân luôn luôn mang trong lòng mình niềm say mê loan báo Tin Mừng đến mức thánh nhân xem việc loan báo Tin Mừng như một trách nhiệm mà mình buộc phải chu toàn: “Khốn cho tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng”. Vì thế, lời căn dặn đầy tâm huyết sau cùng của thánh nhân gởi đến họ: “Anh em hãy ăn ở xứng đáng với Tin Mừng của Đức Ki-tô”.

TIN MỪNG (Mt 20: 1-16)

Dụ ngôn “thợ làm vườn nho” này khép lại một loạt những dụ ngôn về Nước Trời trong giáo huấn của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê. Một lần nữa Đức Giê-su cố giúp cho thính giả của Ngài hiểu rằng điều xảy ra trong Nước Trời không giống chút nào với cách hành xử của con người. Đức Giê-su có chủ ý chọn những ví dụ cực đoan để gây chú ý‎ ngõ hầu truyền đạt một sứ điệp khó khăn. Các dụ ngôn rất thuận tiện cho việc sử dụng lối ngoa ngữ, nhưng luôn luôn được sắp xếp hướng theo chủ điểm của dụ ngôn, để rồi từ đó rút ra một bài học. Ở đây, điều thú vị của câu chuyện hệ tại ở nơi sự công phẫn của những người thợ được mướn từ sáng sớm.

1. Thiên Chúa hoàn toàn tự do trong việc ban phát ân lộc của Ngài

Mới đọc thoáng qua, dụ ngôn này như muốn loan báo cùng một tư tưởng của Bài Đọc I:

“Trời cao hơn đất thấp chừng nào,

thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi,

và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55: 9).

Vì thế, thật là vô l‎ý nếu chúng ta tiếp cận dụ ngôn này theo nhãn quan trần thế, vì Đức Giê-su rõ ràng dạy rằng Nước Trời không là tiền thù lao, nhưng là ân ban, Thiên Chúa hoàn toàn tự do định liệu, nhưng không là một kẻ chuyên quyền độc đoán; đây là một sự tự do được điều khiển bởi tình yêu. Lòng nhân ái của Thiên Chúa vượt quá sự công bằng giao hoán.

Tuy nhiên, trước tiên chúng ta nên khảo sát cách hành xử của con người với con người trong giao tiếp xã hội. Dụ ngôn này làm thương tổn đặc biệt đến độ nhạy bén của con người hiện đại, rất gai góc đối với vấn đề công bằng giao hoán. Tuy nhiên, dụ ngôn này xem ra rất gần gũi hơn với thế giới của chúng ta, một thế giới đang quần quại trong nỗi đau của đa số người cố bám víu vào bất kỳ một công việc nào để sống cho qua ngày đoạn tháng. Suốt ngày, họ đứng đó mong chờ bất kỳ ai thuê họ bất cứ công việc nào để đổi mồ hôi lấy bát cơm cho gia đình. Ông chủ trong Tin Mừng năm lần bảy lượt ra ngoài phố chợ để mướn thợ vào làm vườn nho của mình, thậm chí cho đến lúc ngày sắp tàn. Đọc đoạn Tin Mừng này hàm chứa một sự đắc ý nào đó khi ghi nhận rằng những người thợ bất đắc dĩ được mướn sau cùng đã nhận được tiền công nhật đầy đủ để có thể nuôi sống gia đình trong một ngày nhờ vào tấm lòng rộng lượng của ông chủ vườn nho. Tiền công nhật được thỏa thuận là một quan tiền, đó là giá trị phải chăng để nuôi sống gia đình trong một ngày.

2. Sống trong tư thế sẵn sàng

“Chủ điểm” của dụ ngôn này được định vị ở nơi tư thế sẵn sàng của những người thợ giờ sau chót này. Họ chờ đợi suốt ngày trong tâm trạng nôn nao thấp thỏm và chỉ vào lúc xế chiều mới được mướn vào làm vườn nho. Nếu được thuê mướn sớm hơn, chắc chắn họ cũng đã làm việc cho ông trọn ngày như bao nhiêu người khác. Biết bao câu chuyện Tin Mừng theo cùng một chiều hướng này: Đức Giê-su tìm kiếm những tấm lòng sẵn sàng này. Ngài tỏ mình ra cho người phụ nữ xứ Sa-ma-ri: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây” (Ga 4: 26), không vì công trạng của chị, nhưng vì Ngài đã phát hiện ở nơi chị một tư thế sẵn sàng đón nhận Mặc Khải của Ngài.

3. Nổi bất bình của những thợ đầu tiên

Những người thợ làm việc ngay từ tảng sáng sớm ngạc nhiên đến bất bình trước việc ông chủ trả tiền công: làm sao ông có thể trả công cho những người thợ sau chót chỉ làm có một giờ vào lúc khí trời mát mẽ cũng bằng với những người thợ đã làm việc nặng nhọc suốt ngày trong cái nắng như thiêu như đốt được chứ? Dụ ngôn có nhiều điểm tương tự với dụ ngôn của người con hoang đàng trong đó người con cả công phẫn trước cách đối xử của cha anh đối với người con út, kẻ lang bạt vừa mới chân ướt chân ráo trở về nhà cha, sau khi đã sống cho đến tận bùn nhơ của cuộc đời. Người con cả không hiểu cách hành xử của cha anh, bởi vì anh thiếu tấm lòng khoan dung rộng lượng của tình phụ tử.

Trong dụ ngôn của Tin Mừng hôm nay, ông chủ trả lời một trong những người bất bình với một cung giọng quở trách: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi một quan tiền sao?”, như Đức Giê-su quở trách Giu-đa, kẻ phản bội Thầy: “Này bạn, bạn đến đây làm gì thì cứ làm!” (Mt 26: 50), hay như đức vua quở trách một trong những khách vào dự tiệc cưới: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?” (Mt 22: 12).

4. Công bình và lòng nhân ái

Những người thợ được thuê từ sáng sớm bị quở trách vì thiếu tấm lòng nhân ái: “Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghét tức?”. Không loại trừ rằng dụ ngôn có một hậu cảnh bút chiến nhắm đến nhóm Biệt Phái. Những người này tự hào tự phụ là mình được gọi vào làm vườn nho cho Thiên Chúa trước tiên. Họ đã đổ nhiều công sức trong việc tuân giữ Lề Luật một cách nghiêm nhặt, không bỏ sót một điều luật nào, nên tỏ ra thái độ khỉnh bỉ những kẻ thu thuế và phường tội lỗi, những người mà Đức Giê-su quan tâm đặc biệt. Văn hào Barnanos đã viết: “Nhân loại tự tách mình ra thành hai loại khác biệt tùy theo quan niệm mà người ta có về công bình. Đối với những người này, công bình là một thế cân bằng, một sự thỏa hiệp. Còn những người khác, nó như một sự thăng hoa, một sự đăng quang vinh hiển của lòng nhân ái”.

Dụ ngôn này cũng đề cao mầu nhiệm Giáo Hội: Những Ki-tô hữu gốc lương dân là những người đến sau lại được gọi gia nhập Nước Trời và được hưởng vô vàn những ân lộc mà Thiên Chúa đã hứa với dân Do thái. Vì thế, dụ ngôn này đem đến một niềm hy vọng tuyệt vời cho những Ki-tô hữu gốc lương dân, những người đã đón nhận lời mời gọi của tôn chủ chỉ sau một thời gian dài dân Ít-ra-en được tuyển chọn.

Nhưng đây cũng là một niềm hy vọng tuyệt vời cho những ai khám phá Thiên Chúa chỉ vào những giờ phút sau cùng của cuộc đời mình. Ví dụ cảm động nhất không phải là ví dụ tên gian phi sám hối đấy sao? Cả một đời gian ác, nhưng chỉ một lời nói đầy cảm thương của anh vào giây phút cuối đời đã đem lại cho anh một lời hứa ngay tức khắc của Đức Giê-su: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Nước Trời” (Lc 23: 43).

 

home Mục lục Lưu trữ