Hình thành - Phát triển
Sinh hoạt giáo xứ
Tìm hiểu giáo lý
Xã hội
Đang online: 55
Tổng truy cập: 1892454
SỰ SỐNG MỚI
SỰ SỐNG MỚI
(Suy niệm của Lm. Trần Bình Trọng)
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay khơi dậy trong ta cái cảm giác hy vọng ngay trong Mùa Chay khi ta suy niệm về sự thương khó và tử nạn của Chúa. Ta biết điều đó phải đến như vậy vì đời sống và sứ vụ của Chúa không thể nào chỉ được kết thúc trong cảnh tử nạn mà thôi. Trung tâm điểm của Mùa Chay không phải là Thứ Sáu Chịu Nạn mà là Chúa Nhật Phục Sinh khi ta đón mừng cái tiêu điểm của sứ điệp Kitô giáo: Chúa đã sống lại như Lời Người đã phán hứa. Tuy nhiên trong lễ nghi phụng vụ Giáo Hội nhắc nhở cho ta trong Mùa Chay về cuộc khổ hình và tử nạn của Chúa Kitô hầu giúp ta tìm ra ý nghĩa cho đời sống. Vì thế ta có thể có cái nhìn lệch lạc, nghĩa là chỉ nhìn đến những đau khổ của Chúa, mà quên đi cuộc phục sinh khải hoàn của Người. Do đó ta cần nhận thức rằng những mầu nhiệm trong đời sống và sứ vụ của Chúa, không phải chỉ kết thúc ở cuộc tử nạn mà thôi. Trong lễ nghi phụng vụ, ta cần nhắc nhở cho mình về cuộc phục sinh của Chúa. Ta cần ghi nhớ lại mỗi biến cố trong cuộc đời cứu chuộc: khổ giá, tử nạn và phục sinh của Chúa là một phần của toàn bộ chương trình cứu chuộc.
Cái chết của Lazarô và việc ông được cho sống lại trong Phúc âm hôm nay tiên báo cái chết và phục sinh của Chúa. Mặc dầu có những điểm tương đồng giữa hai cái chết và hai cuộc phục sinh, ta vẫn thấy có một sự khác biệt lớn. Cái phẩm chất của sự sống mới được phục sinh nơi Lazarô không thể nào được so sánh với cuộc phục sinh nơi Chúa Kitô, vì chính Người là sự sống lại và là sự sống.
Việc Lazarô bước ra khỏi mồ chưa phải là lúc có thể chia sẻ cuộc sống sung mãn với Chúa. Cuộc sống sung mãn dành cho người Kitô giáo là cái chìa khóa giúp ta hiểu cuộc đối thoại giữa hai chị em Marta và Maria trong Phúc Âm hôm nay về cuộc sống vĩnh cửu. Do đó Lazarô phải chết đi một lần nữa mới có thể tiến tới cuộc sống vĩnh cửu và sung mãn. Cái cuộc sống mới vĩnh cửu mà Chúa nói với Marta và Maria là cuộc sống siêu việt và sung mãn không bị ảnh hưởng bởi tử thần. Cuộc phục sinh của Chúa phải hướng dẫn tư tưởng hằng ngày của ta trong lời cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa là Đấng từ ngày này qua ngày khác thấm nhuần đời sống ta bằng sức sống mới. Cuộc phục sinh của Chúa phải đánh dấu cái việc khởi đầu cho cuộc biến đổi của tất cả những ai coi cuộc sống đời này là khó khăn, vất vả, nặng nhọc. Cuộc sống phục sinh không phải là cái gì ta có thể nhìn lại vì ta chưa có kinh nghiệm đạt tới, nhưng là cái gì ta đang nhìn tới với niềm hi vọng. Chính niềm hy vọng đó mà ngay cả với những ngày xuống tinh thần sẽ đem lại niềm vui và ý nghĩa cho đời sống.
Con người ta sinh ra để mà chết. Nhưng con người cũng sinh ra với cái ước muốn gọi là hy vọng. Đối với người tín hữu, Chúa Kitô là hy vọng của ta. Đưa cái tư tưởng hi vọng vào lúc gặp khó khăn thử thách không phải chỉ dành riêng cho người Kitô giáo mà thôi. Như ta học biết trong bài Thánh Kinh Cựu Ước hôm nay, Tiên Tri Ê-dê-ki-en cũng đã nhắc nhở cho người Do Thái trong cuộc lưu đầy là họ sẽ được sinh tồn như là một dân tộc và một quốc gia mặc dầu với những khó khăn thử thách họ phải đương đầu. Lời Tiên Tri Ê-dê-ki-ên cho họ niềm hi vọng là họ sẽ được phục hồi sau cuộc lưu đầy, nghĩa là họ sẽ được giải phóng và cứu thoát. Tin vào điều đó có nghĩa là có hi vọng. Và cái hi vọng đó không phải chỉ hạn chế ở đời này mà thôi. Đó là điều mà Thánh Phaolô nhắc nhở người tín hữu: Còn anh em, anh em không thể sống cho xác thịt, nhưng la sống theo thần trí (Rm 8,9). Sống theo thần trí có nghĩa là mở rộng tâm hồn mong mỏi đến một đời sống sung mãn và vĩnh cửu của Chúa Kitô. Và cái đời sống vĩnh cửu sung mãn này có tính cách vượt qua thời gian và không gian. Cái niềm hi vọng vào cuộc sống sung mãn vĩnh cửu sẽ tạo cho người tín hữu cái niềm vui và ý nghĩa cho cuộc sống, mặc dầu phải trải qua những ngày đen tối. Niềm hi vọng hay cậy trông là một nhân đức đối thần. Cũng như đức tin và đức ái, đức cậy trông phải thấm nhập vào tất cả đời sống của người tín hữu. Đức cậy trông phải được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày. Mặc dù với những bệnh tật, đau khổ, thất vọng, chán chường, người tín hữu có đức cậy trông vẫn giữ vững niềm cậy trông vào Chúa. Người tín hữu được kêu gọi sống trong cậy trông bất chấp những thăng trầm của cuộc sống. Với niềm cậy trông, người tín hữu đi tìm Chúa và phụng sự Chúa với hi vọng rằng Chúa sẽ không bỏ rơi họ. Đức cậy trông theo Thánh Phaolô đưa dẫn ta đến đời sống trường sinh.
78.Thầy là sự sống
(Suy niệm của Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh)
"Hỡi Lazarô, hãy bước ra!"
Mạc Khải "Thày là Sự Sống" cho chị em Matta và Maria.
Nếu hai tuần III và IV của Mùa Chay thuộc Chu Kỳ Phụng Niên Năm A, Phúc Âm Thánh Gioan được Giáo Hội có ý chọn đọc về trình thuật Chúa Giêsu đã Mạc Khải Người là "Đường Lối" cho phụ nữ Samaritanô ngoại lai, và Người là "Sự Thật" cho người mù từ lúc mới sinh, thì tuần V này đến trình thuật Chúa Giêsu đã Mạc Khải Người là "Sự Sống" qua việc Người hồi sinh Lazarô từ trong cõi chết. Bởi vì, trong trình thuật hồi sinh Lazarô này, trước khi ra tay cải tử hoàn sinh, chính Chúa Giêsu đã tuyên bố với Matta: "Thày là sự sống lại và là sự sống: ai tin vào Thày thì dù có chết cũng được sống và ai đang sống mà tin vào Thày sẽ không bao giờ phải chết" (Jn 11:25-26).
Phải, chính lời tuyên bố này của Chúa Giêsu là tột đỉnh Mạc Khải Chúa Kitô là "Sự Sống" trong trình thuật hồi sinh Lazarô của bài Phúc Âm hôm nay, cũng như lời Người tuyên bố "Ta là Đấng đang nói với chị/anh" (Jn 4:26; 9:37) trong trình thuật Người tỏ mình ra cho chị phụ nữ Samaritanô của Phúc Âm hai tuần trước, hay cho người mù từ lúc mới sinh của Phúc Âm tuần vừa rồi. Tuy nhiên, so sánh với hai lần tỏ mình trước, một cho người phụ nữ Samaritanô và một cho người mù từ lúc mới sinh, lần tỏ mình của Chúa Giêsu lần này hơi khác. Ở chỗ, hai lần trước Người từ từ dẫn con người đến việc nhận biết Người, tức Người tỏ mình ra sau, còn lần này Người tỏ mình ra trước khi hành động, tức là sau khi tự xưng "Thày là sự sống lại và là sự sống", Người mới ra tay chứng tỏ mình thực sự là như thế. Tại sao? Nếu không phải tại vì đối tượng của lần này khác với hai lần trước. Đối tượng của lần tỏ mình ra này không phải là một phụ nữ ngoại lai ở miền đất Samaritanô xa lạ, hay là một kẻ mù từ lúc mới sinh người Do Thái ở miền chính giáo Giuđêa, mà là một gia đình hết sức nghĩa thiết với Người (xem Jn 11:5) ở ngay Bêthania gần thành thánh Giêrusalem (xem Jn 11:18), địa điểm Vượt Qua của Người.
Tuy nhiên, không phải vì thân thiết với Người mà Chúa Giêsu đã châm chước yếu tố nhân sinh cho chị em này, ngay trước giây phút tuyệt đỉnh của Mạc Khải, trước giây phút Chúa Kitô tỏ mình ra "Thày là sự sống lại và là sự sống". Như trường hợp của người phụ nữ Samaritanô và người mù từ lúc mới sinh, cả hai đã phải tỏ ra lòng thành khao khát và tìm kiếm chân lý của mình mới được Người tỏ mình ra cho biết thế nào, bà chị cả Matta trong gia đình ba chị em của người chết Lazarô cũng thế, cũng đã phải bày tỏ lòng mình đối với Người như sau: "Lạy Thày, nếu Thày có mặt ở đây em con đâu có chết. Dù thế, ngay lúc này đây, con tin chắc Thiên Chúa sẽ ban cho Thày những gì Thày xin". Nếu người phụ nữ Samaritanô ngoại lai, sau giây phút tuyệt đỉnh của Mạc Khải, đã chạy về loan báo cho dân làng của mình hay biết thế nào, và nếu người mù từ lúc mới sinh, sau giây phút nhận ra Đấng đã phục quang cho mình, đã tuyên xưng đức tin và phục xuống thờ lạy Người thế nào, Matta cũng thế, sau khi nghe Thày tự xưng "Thày là sự sống lại và là sự sống", đã tuyên xưng đức tin: "Vâng, Lạy Thày, con tin. Con đã tin rằng Thày là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng đến trong thế gian", rồi sau đó về nhà báo tin cho Maria em mình, người cũng bày tỏ lòng mình với Chúa Giêsu y như chị của mình, khi cô vừa gặp Người và qùi sụp xuống dưới chân Người mà thổn thức: "Lạy Thày, nếu Thày có mặt ở đây em con đâu có chết". Và chỉ sau lời thổn thức này của Maria, nhất là, như Phúc Âm cho biết, "khi thấy cô khóc, và những người Do Thái theo cô cũng khóc, tâm hồn Người cảm thấy bồi hồi xúc động. Người hỏi: "Các người chôn táng anh ta ở đâu?". Họ đáp "Thưa Thày, xin hãy đến mà xem". Chúa Giêsu bắt đầu khóc".
Tại sao Chúa Giêsu lại khóc? Phải chăng vì Người không cầm được lòng khi thấy Maria khóc? Nhưng Maria sở dĩ khóc là vì Lazarô thân yêu của chị em cô đã chết, trong khi đó, Chúa Giêsu biết chắc chắn rằng Người có thể làm Lazarô cải tử hoàn sinh cho chị em cô! Vậy thì phải chăng động lực thúc đẩy Người khóc, cử chỉ hết sức hiếm hoi và đặc biệt được Phúc Âm lần đầu tiên ghi nhận, là vì, ngay lúc bấy giờ, Người nghĩ đến các linh hồn bất tử vô cùng cao quí nói chung, nhất là linh hồn của thành phần bạn thân của Người nói riêng, sẽ đời đời bị chôn vùi trong nấm mồ sự chết, không bao giờ bước ra khỏi ngôi mồ vĩnh tử này nữa, không còn nghe thấy tiếng gọi của Người nữa, khi Người lên tiếng gọi họ như đã gọi Lazarô "hãy bước ra khỏi mồ". Đúng thế, về phương diện tâm linh, con người tội lỗi trên đời này là một con người sống trong sự chết, một sự chết, đối với Chúa, chẳng khác gì như là một giấc ngủ (xem Mt 9:24), Người cần phải gọi họ dạy. Vì là một giấc ngủ, dù có ngủ say, ngủ mê ngủ mệt đến mấy, đến độ "xông mùi" đi nữa, như trường hợp của Lazarô trong bài Phúc Âm hôm nay, con người tội lỗi vẫn còn khả năng nghe được tiếng "Thiên Chúa là Thần Linh" (Jn 4:24): "Kẻ chết sẽ nghe thấy tiếng của Con Thiên Chúa và những ai nghe theo tiếng ấy sẽ được sống" (Jn 5:25).
Mạc Khải "Thày là Sự Sống" theo ý nghĩa của Mùa Chay.
Mùa Chay là Thời Đoạn Phụng Vụ hướng về và sửa soạn cho việc cử hành và cảm nghiệm Biến Cố Vượt Qua., một biến cố không phải Chúa Giêsu chỉ chịu khổ nạn và tử giá, mà còn sống lại hiển vinh nữa. Bởi thế mới gọi là Vượt Qua: "vượt qua sự chết mà vào sự sống" (Jn 5:24). Người đã ví cuộc Vượt Qua của Người chẳng khác gì như thân phận của một hạt lúa miến gieo xuống đất cần phải vượt qua mục nát mới có thể trổ sinh muôn vàn hoa trái (xem Jn 12:24). Phần Người, Người "đến để làm chứng cho chân lý" (Jn 18:37), ở chỗ "không làm theo ý mình mà là ý Đấng đã sai" (Jn 6:38), tới độ "Người đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá" (Phil 2:8). Chính vì thế, "Thiên Chúa đã tôn vinh Người" (Phil 2:9; xem Jn 17:1,5), ở chỗ, đã chứng thực Người là "Con yêu dấu" (Mt 3:17, 17:5), là Đấng Thiên Sai của Ngài, bằng cách "Thiên Chúa đã làm cho Người từ trong kẻ chết sống lại" (Acts 10:40, 13:30).
Cuộc Vượt Qua, bao gồm việc Chúa Giêsu "tự hiến" (Jn 17:19) để làm chứng Người được Thiên Chúa sai, và việc Thiên Chúa làm cho Người từ trong kẻ chết sống lại cũng để chứng thực Người quả là Đấng Thiên Sai của Ngài, cần phải thực hiện để làm gì, nếu không phải để cho chung con người (đặc biệt là dân Do Thái) và riêng thành phần chứng nhân tiên khởi "tin mà được sự sống đời đời" (Jn 3:16). Nếu "Tôi đến cho chiên được sự sống và được sự sống viên trọn" (Jn 10:10), bằng cách "hiến mạng sống mình vì chiên" (Jn 10:11), thì Cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô chính là để ban sự sống trường sinh một cách phổ quát cho chung loài người, và một cách bí tích cũng như thần bí cho riêng những ai tin vào Người vậy. Như thế, việc Chúa Giêsu làm cho Lazarô cải tử hoàn sinh vào thời điểm gần đến ngày giờ Vượt Qua của Người chính là dạo khúc của Thực Tại Mạc Khải "Thày là sự sống lại và là sự sống" vậy.
Tại sao Chúa Giêsu, trong trường hợp Người làm cho Lazarô hồi sinh bước ra khỏi mồ, không xưng mình "Ta là sự sống (trước) và là sự sống lại (sau)", mà lại xưng "Ta là sự sống lại (trước) và là sự sống (sau)"? Theo tôi, Chúa Giêsu phải "là sự sống lại (trước)", bởi vì, Người sẽ sống lại từ trong kẻ chết, một sự sống lại về phần xác được Người tỏ cho thấy trước nơi việc Người làm cho Lazarô bạn thân của Người sống lại về phần xác. Và Chúa Giêsu phải "là sự sống (sau)", bởi vì, nhờ việc Người sống lại về phần xác của Người như thế, Người mới làm cho nhiều Người tin vào Người, nghĩa là làm cho họ được sự sống đời đời, như qua việc Người đã làm cho Lazarô sống lại về phần xác, nên, theo Phúc Âm hôm nay cho biết, Người đã thực sự làm cho nhiều người Do thái có mặt bấy giờ được sự sống. Ở chỗ, nếu "sự sống đời đời là nhận biết..." (Jn 17:3), thì "nhiều người Do Thái đến thăm Maria và thấy những gì Chúa Giêsu làm thì tin vào Người" (Jn 11:45) không phải là họ được "sự sống đời đời" hay sao?
Đến đây chúng ta cũng hiểu được lý do tại sao trong Bữa Tiệc Ly Chúa Giêsu tự xưng "Thày là đường, là sự thật và là sự sống" (Jn 14:6). Bởi vì, theo tôi, Chúa Giêsu "là đường" qua những gì Người nói và làm nơi nhân tính của một Con Người trong suốt cuộc đời trần thế của Người, nhất là trong thời gian xuất thân loan báo và thiết lập Nước Trời; Chúa Giêsu "là sự thật" nơi chính chứng từ Người thực hiện, nhất là nơi Cuộc Khổ Nạn và Tử Giá của Người, để chứng thực Người quả là Đấng Thiên Sai; Chúa Giêsu "là sự sống" nơi quyền linh trọn vẹn (xem Mt 28:18) Người tỏ ra qua cuộc Phục Sinh của Người trong tư thế là Con Thiên Chúa, Đấng thông ban Thánh Linh cho thành phần chứng nhân tiên khởi là các vị tông đồ (xem Jn 20:22). Thật ra, mỗi một việc Chúa Giêsu làm đều là Mạc Khải cho thấy Người "là đường, là sự thật và là sự sống". Chẳng hạn trong Mầu Nhiệm Giáng Sinh, Chúa Giêsu "là đường" nơi chính việc "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta, chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người" (Jn 1:14), "là sự thật" ở chỗ "ánh sáng thật đã đến trong thế gian chiếu soi cho tất cả mọi người" (Jn 1:9), và "là sự sống" ở chỗ "ai chấp nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa" (Jn 1:12). Hay trong việc Người ở lại trong đền thờ năm 12 tuổi, Chúa Giêsu "là đường" ở chỗ "ông bà tìm tôi làm chi?", "là sự thật" ở chỗ "ông bà không biết Tôi phải ở trong nhà của Cha Tôi hay sao?", và "là sự sống" ở chỗ "Người theo các vị về Nazarét và tuân phục các vị. Còn mẹ Người thì ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng" (Lk 2:49-51).
Vấn đề thực hành sống đạo: Hy sinh, khổ chế, bỏ mình trong Mùa Chay chỉ có ý nghĩa khi chúng phát xuất từ đức tin chân thực, và chỉ có giá trị khi chúng trổ sinh hoa trái sự sống yêu thương trọn lành. Bởi vì "đức tin thể hiện nơi đức ái" (Gal 5:6). Mà đức tin là gì, nếu không phải, theo tu đức, là việc linh hồn đáp ứng tác động thần linh, là việc linh hồn tỏ ra nhận biết Thiên Chúa, là cảm nghiệm thần linh của linh hồn. Một cảm nghiệm thần linh càng chân thực càng phản ảnh thần linh, càng trở thành chứng từ thần linh sống động, càng có tác dụng thần linh mãnh liệt, càng thu hút tâm linh của con người muốn tìm kiếm chân lý và càng làm cho thế gian nhận biết để được sự sống đời đời (xem 1Jn 1:3).
Các tin khác
.: GIẢNG CHÚA NHẬT 05 MÙA CHAY (21/03/2026) .: CHÚA GIÊSU LÀM CHO ANH LAGIARÔ SỐNG LẠI (21/03/2026) .: CHUYỂN RỜI, ĐẾN GẶP VÀ TIN THÌ ĐƯỢC SỐNG (21/03/2026) .: THẦY LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG (21/03/2026) .: AI TIN VÀO ĐỨC KITÔ THÌ DÙ ĐÃ CHẾT CŨNG SẼ ĐƯỢC SỐNG (21/03/2026) .: CHỨNG NHÂN CỦA TIN MỪNG SỐNG LẠI (21/03/2026) .: GIÊSU: ĐẤNG BAN SỰ SỐNG (21/03/2026) .: NỐI KẾT VỚI CHÚA GIÊSU LÀ NGUỒN BAN SỰ SỐNG (21/03/2026) .: CHÚA KITÔ LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG (21/03/2026) .: ĐỨC YÊSU LÀ SỰ SỐNG LẠI VÀ LÀ SỰ SỐNG (21/03/2026) .: NGUỒN SỐNG ĐÍCH THỰC (21/03/2026) .: MỞ CỬA MỒ (21/03/2026) .: THẦY LÀ SỰ SỐNG LẠI. (21/03/2026) .: LỄ THÁNH GIUSE (17/03/2026) .: HÃY HỌC TRƯỜNG THÁNH GIUSE (17/03/2026)
Mục lục Lưu trữ
- Văn Kiện Giáo Hội
- Giáo Hội Công Giáo VN
- Tin Ngắn Giáo Hội
- Tài Liệu Nghiên Cứu
- Tủ Sách Giáo Lý
- Phụng Vụ
- Mục Vụ
- Truyền Giáo
- Suy Niệm Lời Chúa
- Lời Sống
- Gợi Ý Giảng Lễ
- Hạnh Các Thánh
- Sống Đạo Giữa Đời
-
Cầu Nguyện & Suy Niệm
- Cầu Nguyện
- Suy Niệm
- Cầu Nguyện Là Gì?
- Cầu Nguyện Từ Mọi Sự Vật
- Suy Niệm Đời Chúa
- Mỗi Ngày Năm Phút Suy Niệm, (Mùa Vọng -> CNTN) - Năm A
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A - Mùa Chay
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A - Mùa Phục Sinh
- Mỗi Ngày Năm Phút Suy Niệm - Mùa Chay, C
- Năm Phút Suy Niệm Lời Chúa - Tuần Thánh - Phục Sinh, C
- Năm Phút Suy Niệm Lời Chúa Mỗi Tuần Thường Niên C
- Năm Phút Suy Niệm, Năm B (2011-12)
- Năm Phút Suy Niệm, Năm C (2012-13)
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A (2013-14)
- Cầu Nguyện Chung
- Suy Tư Và Thư Giãn
- Thánh Ca Việt Nam
- Phúc Âm Nhật Ký
- Thơ
- Electronic Books (Ebooks)
- Vatican
- Liên HĐGM Á châu
- Đài Phát thanh Chân lý Á châu - Chương trình Việt ngữ
- Giáo phận Bà Rịa
- Giáo phận Ban Mê Thuột
- Giáo phận Bắc Ninh
- Giáo phận Bùi Chu
- Giáo phận Cần Thơ
- Giáo phận Đà Lạt
- Giáo phận Đà Nẵng
- Tổng Giáo phận Hà Nội
- Giáo phận Hải Phòng
- Tổng Giáo phận Huế
- Giáo phận Hưng Hóa
- Giáo phận Kon Tum
- Giáo phận Lạng Sơn
- Giáo phận Long Xuyên
- Giáo phận Mỹ Tho
- Giáo phận Nha Trang
- Giáo phận Phan Thiết
- Giáo phận Phát Diệm
- Giáo phận Phú Cường
- Giáo phận Qui Nhơn
- Giáo phận Thái Bình
- Giáo phận Thanh Hóa
- Tổng Giáo phận TP HCM
- Giáo phận Vinh
- Giáo phận Vĩnh Long
- Giáo phận Xuân Lộc
- Ủy ban BAXH-Caritas Việt Nam
- Ủy ban Công lý và Hòa bình
- Ủy ban Giáo dục Công giáo
- Ủy ban Giáo lý Đức tin
- Ủy ban Kinh Thánh
- Ủy ban Mục vụ Di dân
- Ủy ban Mục vụ Gia đình
- Ủy ban Nghệ Thuật Thánh
- Liên hiệp Bề trên Thượng cấp Việt Nam