Hình thành - Phát triển
Sinh hoạt giáo xứ
Tìm hiểu giáo lý
Xã hội
Đang online: 23
Tổng truy cập: 2380430
HÃY MẶC Y PHỤC LỄ CƯỚI
HÃY MẶC Y PHỤC LỄ CƯỚI
Lam Thy ĐVD
Việc tổ chức tiệc cưới trong xã hội loài người cũng khá đa dạng. Việc mời khách đến dự tiệc cưới cũng có nhiều phương cách khác nhau. Tiệc cưới dân dã nơi một vùng quê, bình thường thì chủ hôn mời cả làng đến dự cho đông vui và cũng thể hiện tình làng nghĩa xóm vui buồn ấm lạnh có nhau; nhưng tiệc cưới ở thành thị có khác hơn, khách mời được chọn lọc từ những mối dây thân tình, thân tộc, không đặt nặng vấn đề địa chỉ cư trú, thậm chí nhiều khi ở liền vách với nhau cũng không được mời vì lý do này nọ. Đến như tiệc cưới nơi cung đình thời phong kiến tuy cách tổ chức thật lộng lẫy xa hoa, nhưng khách được mời lại càng được chọn lọc kỹ càng, dân đen đừng hòng bén mảng. Nhìn vào những tiệc cưới như vừa kể, mới thấy cái lạ lùng nơi tiệc cưới trong bài Tin Mừng CN XXVIII/TN-A (“Dụ ngôn tiệc cưới” – Mt 22, 1-14).
Cái la lùng thứ nhất không phải ở chỗ nhà vua chọn lọc khách mời, nhưng ở chỗ khách được mời thay vì vui mừng hãnh diện, mau mắn áo quần bảnh bao tới dự, thì lại tỏ ra thờ ơ, lơ là, chẳng thèm để ý. Đến khi được nhắc nhở, không những đã không nhìn thấy cái sai của mình, mà còn chống đối lại chủ tiệc bằng cách sỉ nhục và giết chết những đầy tớ được sai đi nhắc lại lời mời dự tịêc. Chính vì thế, nhà vua mới giận dữ tru diệt những khách mời hết sức lạ lùng ấy, và sau đó nhà vua hạ lệnh mời tất cả mọi người bất kể quan hay dân, tốt hay xấu. Và đó chính là cái lạ lùng tiếp theo của tiệc cưới này. Cứ tưởng chỉ có lần trước, những người được chọn mời vì là những quan khách có vai vế trong dân mới chống đối lại ông chủ tiệc cưới; nhưng thật không ngờ lần sau (những người được mời ở những tầng lớp bình dân) cũng vẫn còn có kẻ coi thường nhà vua, không chịu mặc áo cưới.
Khi thấy có người không mặc y phục lễ cưới, nhà vua ôn tồn hỏi: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?”, nhưng “người ấy câm miệng không nói được gì”. Vì thế, nhà vua nổi giận bảo những người phục dịch: “Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng!” (Mt 22, 13). Anh chàng ngoan cố đó không thể biện hộ cho việc mình khinh thường nhà vua, bởi vì đâu có ai đi dự tiệc cưới mà lại không mặc y phục lễ cưới. Sự ngoan cố của anh ta đã chuốc lấy bản án khốc liệt. Dụ ngôn trình thuật đó là cơn thịnh nộ của nhà vua chủ tiệc cưới; tuy nhiên, suy cho cùng thì anh chàng không mặc áo cưới đã “tự kết án mình”. Phải chi anh ta “mặc y phục lễ cưới” cho đàng hoàng thì đâu đến nỗi! Những cái lạ lùng ấy cho thấy đây không phải là một tiệc cưới ở trần gian, dù cho đó có là một tiệc cưới đặc biệt nơi cung đình những triều đại phong kiến đầy xa hoa kiểu cách.
Cũng bởi vì tiệc cưới trong dụ ngôn không phải là một tiệc cưới trần gian và chủ nhân tiệc cưới tất nhiên cũng không phải là vua chúa gian trần. Và vì thế tấm áo cưới ấy hoàn toàn không phải là những soirées, những complets loè loẹt kiểu cách. Từ đó suy ra khi kể dụ ngôn này, Đức Giê-su Ki-tô muốn nói đến một tiệc cưới tối quan trọng, độc nhất vô nhị: tiệc cưới Nước Trời. Nói khác hơn, Người muốn nói đến lịch sử Cứu Độ của Thiên Chúa đối với nhân loại, mà chính Người đóng vai trò chủ yếu. Có thể thấy được 2 giai đoạn lịch sử cứu độ qua dụ ngôn: Giai đoạn đầu là giai đoạn dân It-ra-en được chọn mời, nhưng họ không những đã khước từ, mà còn có thái độ chống đối thô bạo (giết hại những đầy tớ được sai đi mời hoặc nhắc lại lời mời, đó chính là những ngôn sứ, tiên tri là những người được sai đi loan truyền Ơn Cứu Rỗi). Tuy rất thịnh nộ vì kẻ được chọn mời đầu tiên, nhưng lòng khoan nhân đại độ của Thiên Chúa vẫn không vì thế mà suy giảm. Và cũng vì thế, lịch sử cứu độ bước sang giai đoạn hai: Tất cả các dân nước trên thế giới đều được mời gọi và chỉ với một điều kiện duy nhất là phải mặc áo cưới khi dự tiệc.
Cũng vì tiệc cưới đó là “Nước Trời” nên lời mời dự tiệc cưới không gì khác hơn là “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4, 17). Nói cách cụ thể thì trước khi tham dự lễ cưới, khách được mời hãy tẩy rửa con người của mình cho trong sạch (mặc áo cưới). Sự tẩy rửa này đã được “Tiếng hô trong hoang địa” Gio-an rao giảng và thực hành. Đến ngay cả Người kể dụ ngôn “Tiệc cưới” (Đức Giê-su Ki-tô) cũng làm gương bằng cách đến xin Thánh Gio-an Tẩy Giả làm phép rửa (Lc 3, 21; Mt 3, 13-17; Mc 1, 9-11). Đó chính là Phép Rửa mà từ đó về sau, Giáo Hội quy định: Trong lễ Rửa tội, tấm áo trắng được trao cho người tân tòng mặc vào. Nó biểu tượng cho sự sống mới Chúa Giê-su đem lại cho họ nhờ cái chết trên thập giá của Người. Qua Bí tích Thánh Tẩy, người tín hữu đã cởi bỏ con người cũ tội lỗi để mặc lấy con người mới mà sống theo tinh thần Giao Ước Mới do chính Chúa Ki-tô thi hành theo ý định của Thiên Chúa Cha. Tất cả những ai muốn được dự Tiệc Cưới của Chúa Ki-tô do Thiên Chúa Cha đãi tiệc, đều phải tiếp nhận lối sống ấy (mặc áo cưới Nước Trời).
Rõ ràng “mặc áo cưới” là “cởi bỏ con người cũ tội lỗi (sám hối) để mặc lấy con người mới (canh tân)” mà vui mừng vào dự Tiệc Cưới Nước Trời. Nói cách cụ thể là phải sống đúng tinh thần CANH TÂN và SÁM HỐI (Mt 3, 1-2; Lc 3, 3). Nói đến canh tân và sám hối là nói đến chuyện vượt qua chính mình. Trèo đèo, lội suối, vượt qua sông này, biển nọ, có thể thực hiện được, chớ “vượt qua chính mình” mới là thiên nan vạn nan. Kẻ viết bài này cứ thích nhắc đi nhắc lại cho bản thân câu nói rất hay của Nguyễn Bá Học: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Vâng, khi được mời gọi, hãy chân thành nhìn lại mình với cái quá khứ chắc chắn không ít thiếu sót sai lầm của bản thân, quyết tâm sửa chữa (sám hối) để đổi mới (canh tân) toàn bộ con người của mình. Chỉ có như thế mới tránh được “vết xe đổ It-ra-en”, hầu xứng đáng là thực khách diễm phúc trong Tiệc Cưới Nước Trời.
Là Ki-tô hữu, tức là những người “được mời gọi”, phải chân nhận đó là một hồng ân, một đặc sủng, phải quyết tâm cố gắng làm sao để có thể trở thành người “được chọn”, bởi vì “Kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít” (Mt 22, 14). Muốn được như vậy, thì đừng ỷ tài, cậy sức mình, mà phải biết cậy nhờ vào sức mạnh của Thần Khí, cũng bởi vì “Trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ Thần Khí Ta cả trên tôi nam tớ nữ của Ta, và chúng sẽ trở thành ngôn sứ” (Cv 2, 18). Mà muốn đến được với Chủ nhân Tiệc Cưới để Người “đổ Thần Khí” cho, thì đừng quên chạy đến với Đức Maria trong tiệc cưới Ca-na, xin Mẹ ban cho “Áo Đức Bà” (*) cùng với tràng chuỗi Mân Côi huyền nhiệm làm vũ khí lợi hại để hộ thân, trước khi tiến vào Tiệc Cưới Nước Trời. Hãy vững tin kiên trì vững bước theo hành trình ấy, chắc chắn sẽ đạt được ước nguyện.
Ôi! “Lạy Thiên Chúa toàn năng, ước gì ân sủng Chúa vừa mở đường cho chúng con đi, vừa đồng hành với chúng con luôn mãi, để chúng con sốt sắng thực hành những điều Chúa truyền dạy. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ CN.XXVIII/TN-A).
----------------
(*) xc “Áo Đức Bà Ca-mê-lô” trong “Tài liệu về Mẹ Maria” (Thanhlinh.net)
50.Được chọn thì ít--Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến
Dụ ngôn Tiệc cưới (22,1-14) nằm ngay sau dụ ngôn Tá Điền Vườn Nho. Đây là dụ ngôn cuối cùng trong loạt ba dụ ngôn liên quan với nhau. Trong dụ ngôn tá điền vườn nho, Chúa Giêsu đã nói đến việc chuyển giao Nước Trời cho một dân tộc biết sinh hoa trái cho Thiên Chúa (21,43). Chủ đề của dụ ngôn nầy nói về sự thay thế ấy: những người “tốt và xấu ở các ngả ba đường” được mời vào dự tiệc cưới. Họ thế chỗ những người đã được mời mà không đến.
Các hạn từ chính trong dụ ngôn nầy: basileus, “vua” (cc. 2.7.11.13), gamos, “tiệc cưới” (8 lần), doulos, “tôi tớ” (cc. 2.3.6.8.10), kaleō “kêu gọi/mời” (cc. 3.4.8.9 và 14). Từ basileus, “vua” (cc. 2.13) và gamos, tiệc cưới” (cc. 2.12) đóng khung đoạn nầy. Ngoài câu dẫn nhập (c. 1) và kết luận (c. 14), dụ ngôn tiệc cưới (cc. 2-13) có thể chia thành hai phần chính bởi tote, “bấy giờ” (c. 8): – Vua và những người đã được mời (cc. 2-7); Vua và những người từ các ngả đường (cc. 8-13). Cấu trúc của mỗi phần tương tự nhau: – Vua sai các tôi tớ đi mời và họ thực hiện lệnh của vua (cc. 3.4 và 9), – Hành động đáp trả của những người được mời (cc. 5.6 và 10.12), – Hành động của vua đối với những người được mời (cc. 7 và 11. 13).
Dẫn nhập (c. 1)
Lần nữa Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để nói với các lãnh đạo tôn giáo Israel (21,23. 45). “Các dụ ngôn”, số nhiều, chỉ cả ba dụ ngôn trong 21,28-22,14. Sau dụ ngôn thứ hai thánh Matthêô ghi nhận phản ứng tiêu cực của những người nầy. Vì họ đã không hiểu là Chúa Giêsu muốn họ hoán cải khi Ngài nói cho họcác dụ ngôn nầy (x. 21,32), nên họ mới đi đến quyết định là tìm cách bắt Chúa Giêsu (21,46).
Vua và những người đã được mời (cc. 2-7)
Khung cảnh của dụ ngôn là tiệc cưới. Thánh sử tập trung cái nhìn trên lời nói và hành động của vua, cũng như khách được mời. Vua chính là Thiên Chúa (21,40), “người con”, hyios, là Chúa Giêsu Kitô (21,37-38). Ngài là chàng rể của tiệc cưới (x. 9,15; Kh 19,7-9; 21,2.9), các tôi tớ là các ngôn sứ, sứ giả của Thiên Chúa (21,34.36), và “khách đã được mời” là Giêrusalem và dân Isreal.
Trong màn đầu, vị vua sai các tôi tớ đi mời khách dự tiệc đến. Ngài không có một hành động nào khác ngoài việc truyền cho các tôi tớ của ông những điều phải nói: “Hãy nói…” (c. 4), “Hãy gọi…” (c. 9). Thời ấy người ta đi mời trực tiếp bằng miệng; keklēmenos (cc. 3.4.8) là những “người đã được mời/gọi”. Thiên Chúa gọi/mời qua miệng các tôi tớ là Ngài đề nghị với con người một chọn lựa, như Ngài đã mời gọi người vào vườn nho cho Ngài (20,8). Ngài để cho con người tự do quyết định.
Màn tiếp theo là những hành động đáp trả khác nhau của “những người đã được mời”; điểm chung của họ là không đến dự tiệc cưới. Trước tiên họ “không muốn đi” (c. 3) nghĩa là không muốn đến dự tiệc. Động từ “muốn” ở thì quá khứ chưa hoàn thành cho thấy đã nhiều lần họ không sẵn lòng đáp trả cách tích cực lời mời gọi liên tục của Thiên Chúa qua các tôi tớ của Ngài, “Ông sai các tôi tớ” (c. 3) và “lại sai các tôi tớ khác” (c. 4). Ở câu 23,37 Chúa Giêsu dùng hình ảnh ẩn dụ gà mẹ muốn qui tụ đàn con để ám chỉ điều nầy, “họ không muốn” (x. Ga 5,40).
Tiếp đến,“họ không đếm xỉa và bỏ đi” (c. 5). Trong các câu 4-6, Matthêô cho thấy những tương phản giữa hai bên. Về phía các tôi tớ của vua, họ cố gắng thuyết phục những người đã được mời nầy. Họ mở đầu câu đầu tiên bằng idou, “Nầy xem”, để lôi kéo sự suy xét (x. 10,16; 11,8; 22,4). Bữa tiệc của vua, “của tôi”, đã sẵn sàng; hetoimazō và tính từ hetoimos đóng khung câu nầy. Cách diễn tả “bò bê thú đã hạ” chỉ mọi sự sẵn sàng, và tiểu từ deute, “Hãy đến!” đầu câu hai dùng để khích lệ (21,38; 28:6); do đó chỉ còn một việc mà thôi là vào dự tiệc (x. Lc 15,23), “Hãy đến dự tiệc cướì!”. Thế mà, về phía những người đã được mời, thay vì họ “đến dự tiệc”, eis tous gamous, theo lời mời, họ lại “bỏ đi”, arperchomai, “ra đồng của họ”, eis ton idion argon. Tính từ idion, “riêng” đối lại với “ bữa tiệc của tôi” (nhà vua). Họ đi đến ruộng riêng của họ hơn là dự tiệc của vua. Động từ ameleō, “thờ ơ”, “không chú ý”, có đối tượng là lời mời của nhà vua. Họ chỉ quan tâm đến ruộng vườn và việc buôn bán của họ (c. 5). Sau cùng câu 6 mô tả họ đã đối xử bằng bạo lực với các tôi tớ, như các tá điền trong dụ ngôn trước (21,35.38). Trước sự từ chối ấy, bấy giờ vua ra tay hành động. Ngài hành động sau khi những người được mời đã quyết định. Việc họ bị tru diệt họ và thành họ bị thiêu hủy (21,41; 18,34) cho thấy sự chọn lựa của họ gắn liền với hậu quả. Vậy con người có tự do chọn lựa, nhưng lại không có tự do trước hậu quả/kết quả của chọn lựa ấy đến với họ.
Vua và những người từ các ngả đường (cc. 8-13)
Phần hai nầy dành nhiều chỗ cho lời nói và hành động của vua, cũng như cho các tôi tớ của ông. Những người được mời không có hành động nào được mô tả, ngoại trừ “thinh lặng” của người không mặc áo cưới (c. 12b).
Trước khi sai các tôi tớ đi lần nữa, vị vua đưa ra một đánh giá về “tiệc cưới” và “khách đã được mời”. Câu 8 được xem như chuyển tiếp sang phần hai của dụ ngôn tiệc cưới. “Tiệc cưới đã dọn sẵn” được lập lại ở đây, vì đến lúc nầy vẫn chưa có người vào dự tiệc cưới. Thiên Chúa đánh giá những người đã được mời là “đã không xứng đáng”, ouk axioi. Họ đã không xứng đáng vì đã từ chối mọi lời mời gọi. Họ không nghe theo lời mời gọi của các tôi tớ Ngài mà hoán cải, tin vào Chúa Giêsu Kitô để được dự tiệc Nước Trời (x. 3,8; 8,12). Bởi đó vua chọn người khác vào dự tiệc cưới.
Trong màn sai đi lần nầy, Matthêô dùng đến hai lần động từ ở thể mệnh lệnh trực tiếp “Hãy đi”, “Hãy mời/gọi” (c. 9). Động từ poreuomai, “đi” thay thế cho apostellō, “sai đi” (c. 3.4), chỉ sứ vụ đặc biệt mà Thiên Chúa ủy thác cho (2,20; 10,6; 21,2), và sứ vụ nầy liên quan đến những người chưa nhận biết Thiên Chúa (28,19); họ không phải là “những người đã được mời” (cc. 3.4.7). Dioxodoslà “các đường từ đó các đường khác đi ra. Theo mạch văn của dụ ngôn, đó là những chỗ trước khi vào thành. Các con đường từ thôn quê dẫn đến đó và chấm dứt tại đó. Thành thử đó cũng là những đường đi về thôn quê (Obadiah 1,14; Ezek. 21,21). “Các ngả đường” theo nghĩa bóng tượng trưng cho lãnh thổ các dân tộc mà các tông đồ sắp đi đến” (Thayer).
Tuân theo lệnh vua, các tôi tớ đã hành động: họ “đi ra”các đường, và “tìm thấy”, “thu gom” người về dự tiệc; chủ vườn nho cũng đã làm tương tự là ông đã đi ra ngoài và đưa vào làm vườn nho tất cả những người ông tìm thấy ở bất cứ giờ nào (20,6.8). Matthêô trình bày là các tôi tớ đã thu gom tất cả những người họ tìm thấy; osous, “bất cứ người nào”, nhiều chừng nào có thể”; bất kể họ là “người tốt hay người xấu” (c. 10; 5,45); khác với Lc 14,21. Họ chính là dân tộc, ethnos, được nói đến trong 21,43; họ được ví những “tất cả các loại cá” được bắt vào trong lưới Nước Trời (13,47); họ là những người mà Cha trên trời cho mặt trời chiếu soi cho (5,45). Và phòng tiệc cưới đã đầy người dự tiệc.
Các câu 11-13 tiếp theo nói đến các hành động của vua đối với những người đã vào phòng tiệc cưới. Cảnh được mô tả trong các câu nầy được trình bày như khung cảnh phán xét trong ngày cùng tận mà chúng ta gặp thấy ở những nơi khác: Thiên Chúa sẽ xuất hiện và mọi người hiện diện trước mặt Ngài (x. 13,40-41; 22,10; 25,19), kẻ xấu sẽ tự phân biệt với người tốt qua việc họ đã làm đối với Thiên Chúa (24,48-50; 22,12; 25,24-25), và chịu hậu quả của việc họ đã làm “quăng ra ngoài, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng” (13,42; 13,49-50; 22,13; 24,51; 25,30). Như thế vua xuất hiện lúc nầy, sau khi phòng tiệc đã đầy (c. 11), là để tách người không mang y phục lễ cưới ra khỏi những người trong phòng tiệc (c. 12-12); lúc nầy được ví như lúc người ta ngồi xuống lựa cá (13,48; 25,32).
Người ta đặt ra vấn đề “y phục lễ cưới”. Thật sự không có một bằng chứng nào hiển nhiên trong kinh thánh cho biết là người đi dự tiệc cưới có mang y phục cưới hay không. Nếu có, làm sao những người được đưa vào từ các ngả ba đường có sẵn y phục? Nếu không có sẵn y phục, tại sao vua lại trừng phạt người nầy? Tuy nhiên, có một số chỗ trong kinh thánh ủng hộ cho lý chứng là có thể nhà vua đã cung cấp y phục cho những người đến dự tiệc cưới (x. Quan án 14,12; Est 6,8–9; Zach 3,3–5; Lc 15,22; Kh 19,8).
Đem so sánh cảnh sau cùng của dụ ngôn nầy (cc. 11.13) với các dụ ngôn khác về phán xét trong ngày cùng tận, chúng ta sẽ thấy có những điểm tương đồng. Và dựa trên những tương đồng ấy, có thể kết luận là vua đã cung cấp y phục cho người dự tiệc cưới. Trước hết là trước ngày phán xét Thiên Chúa đối xử mọi người giống nhau: các người quản lý đều được đặt lên coi sóc gia nhân (24,17); mọi người đều được nhận một số nén bạc nào đó tùy khả năng (25,14tt ); mười cô trinh nữ đều được đi đón chàng rễ (25,1); do đó, có thể nghĩ rằng những người đã được mời vào phòng tiệc (c. 11a) đều được vua cung cấp y phục lễ cưới, “Bạn vào đây mà không có y phục lễ cưới?” (c. 12). Rồi khi đến ngày phán xét, các dụ ngôn đều cho thấy là có một số người không làm theo ý của Thiên Chúa: người quản lý không chu toàn bổn phận (24,49-51), người đem nén bạc đi chôn giấu (25,26-27), năm cô trinh nữ khờ dại không đem theo dầu dự phòng (25,9-10), và ở đây có “một người không mang y phục lễ cưới” (22,12). Vậy “y phục lễ cưới nầy” có thể hiểu như là một điều kiện người dự tiệc phải hoàn thành mới có thể thật sự dự tiệc cưới Nước Trời; tương tự như những nén bạc phải làm lợi, đèn dầu phải sẵn sàng…
Kết luận ở câu 14 áp dụng cho cả dụ ngôn. Cả hai hạng người,“người đã được mời” và những người từ các ngả đường, đều được Thiên Chúa mời vào dự tiệc cưới. Tất cả họ đều là klētos. Tuy nhiên, eklektos là những người được tuyển chọn giữa những người được mời gọi nầy để tham dự tiệc cưới nầy (x. 24,31) thì không phải nhiều. Câu kết luận nầy không có ý nói đến số lượng, mà là một lời khuyến cáo. Lời khuyến cáo nầy áp dụng cho cả hai hạng người dụ ngôn đã đề cập đến. Với “những người đã được mời”, vì họ đã từ chối đến dự tiệc cưới, nên bị loại ra ngoài (x. 8,11-12). Với những người từ ngả ba đường, họ đã bằng lòng đến, nhưng không phải tất cả đều được chọn vào dự tiệc cưới, vì có người không “mang y phục lễ cưới”, nghĩa là không làm theo ý của Thiên Chúa, cũng bị loại ra ngoài.
Thiên Chúa vẫn mời gọi mọi người đến lãnh nhận ơn cứu độ. Nghe lời Thiên Chúa mời gọi để vào trong Hội Thánh Chúa Giêsu chưa đủ. Thực hiện thánh ý Thiên Chúa mới là bảo đảm để được chọn vào ơn cứu độ đời đời.
51.Tiệc cưới Nước Trời--Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy
Tin mừng Mt 22, 1-14: Ăn năn hoán cải, thực lòng sám hối trở về cùng Chúa, đó chính là chiếc áo cưới Thiên Chúa đòi chúng ta khi chúng ta bước vào Bàn Tiệc của Ngài.
Khi giảng dạy ở trong Đền Thờ, Chúa Giêsu thường bị các thượng tế và kỳ mục trong dân hạch sách. Rõ ràng là họ tới có ý chất vấn Người: "Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy. Ai đã cho ông quyền ấy” (21,23). Nhưng Đức Giêsu đã từ chối trả lời họ, bao lâu họ còn lẩn tránh câu hỏi của Người hỏi: "Phép Rửa của Gioan do đâu mà có. Do Trời hay do người ta (21,24). Trong bối cảnh gay cấn như vậy, Chúa Giêsu đã dùng ba dụ ngôn để cảnh báo họ:
- Dụ ngôn hai người con được sai đi làm vườn nho (Phúc Âm Chúa nhật 26).
- Dụ ngôn những tá điền sát nhân ( Phúc Âm Chúa nhật 27).
- Dụ ngôn tiệc cưới (Phúc Âm Chúa nhật 28).
Trong bài Tin Mừng hôm nay,
1. Đức vua ám chỉ Thiên Chúa;
2. Tiệc Cưới chỉ Nước Trời;
3. Các đầy tớ đi mời khách đến dự tiệc là các ngôn sứ, trong đó có Đức Giêsu;
4. Các quan khách ưu tiên được mời mà không thèm đến đó là Dân Do Thái;
5. Những người ở ngoài đường được mời dự tiệc đó là Dân Ngoại gồm các dân tộc của mọi thời.
Dụ ngôn Tiệc Cưới trong bài Tin Mừng hôm nay có hai chủ ý:
- Chủ ý thứ nhất: Ơn cứu độ hay Nước Trời ưu tiên dành cho người Do Thái, nhưng người Do Thái đã tỏ ra hờ hững, bất xứng với sự ưu tiên ấy, vì thế, sự ưu tiên ấy đã được trao cho các dân tộc khác.
- Chủ ý thứ hai là: để vào Nước Trời, cần phải có một nỗ lực cá nhân để trở nên xứng đáng với Nước Trời, tức là phải mang áo cưới.
Thiên Chúa yêu thương con người, Ngài mở rộng cửa để đón tiếp mọi người vào dự bàn tiệc Nước Trời. Lời mời gọi có tính cách rộng rãi. Ngài mời gọi mọi người không trừ ai, dù tốt dù xấu, miễn là phòng tiệc phải đầy người. Nhưng một số người từ chối.
Thánh Matthêu ghi lại hai lý do: "người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán". Thánh Luca thì ghi rõ hơn, tới ba lý do: "Người thứ nhất nói: tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm; người khác nói: Tôi mới tậu năm cặp bò, tôi đi thử đây; người khác nói: Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được" (Lc 14,18-19)
Ba lý do trong Luca có thể gom thành hai loại
- Quá mê làm ăn có thể kéo ta xa Chúa.
- Quá lo thụ hưởng cũng có thể kéo ta xa Chúa.
Thực ra hai điều ấy không cấp bách đến nỗi phải lập tức làm ngay để đành từ chối lời mời ưu ái của nhà vua. Tuy nhiên, đó là hai nguyên do khiến nhiều người chối từ lời mời của Thiên Chúa.
Trước sự từ chối của dân Do Thái, Thiên Chúa quay sang Dân Ngoại, mời họ vào Nước Trời cho thật đông để họ được thưởng thức những cao lương mỹ vị mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho họ. Tuy nhiên, muốn vào dự tiệc Nước Trời cũng phải có điều kiện đó là phải mặc áo cưới.
Chúng ta có thể coi chiếc áo cưới là phần nối tiếp của dụ ngôn khách mời dự tiệc, hoặc coi như là một dụ ngôn riêng. Tuy coi là dụ ngôn riêng nhưng cũng là câu chuyện nối tiếp và giải rộng ý nghĩa câu chuyện trước, trong câu truyện ở đây có một thực khách đến dự tiệc của nhà vua, nhưng không mặc lễ phục, nên đã bị tống giam.
Điều này chắc phải làm chúng ta thắc mắc: những người đang ở ngoài đường đột nhiên được mời vào dự tiệc cưới thì làm sao có sẵn áo cưới mà mặc. Chúng ta nên nhớ đây là một dụ ngôn, nghĩa là các chi tiết ám chỉ đến một ý nghĩa nào đó. Nếu bữa tiệc cưới là hình ảnh của Nước Trời, thì chiếc áo cưới tượng trưng cho nếp sống phù hợp với Nước Trời. Tự nhiên được mời vào Nước Trời đã là một hồng phúc, cho nên để đáp lại thì phải có một nếp sống phù hợp với Nước Trời.
Chiếc áo cưới ở đây tượng trưng cho cách sống. Theo ý kiến của một số giáo phụ, chiếc áo cưới ám chỉ đức ái, tối thiểu là cuộc sống ăn ngay ở lành. Còn theo ý kiến của các nhà chú giải Thánh Kinh thời nay, thì chiếc áo cưới chính là sự hoán cải hay sự trở về, tức là tinh thần sám hối chân thật.
Ăn năn hoán cải, thực lòng sám hối trở về cùng Chúa, đó chính là chiếc áo cưới Thiên Chúa đòi chúng ta khi chúng ta bước vào Bàn Tiệc của Ngài như người Hồi Giáo thường kể rằng:
Ngày kia Đức Allah truyền cho một sứ thần xuống thế gian tìm xem có điều gì tốt đẹp nhất để mang về trời.
Sứ thần đến ngay một chiến trường nơi máu của các vị anh hùng đang chảy lai láng, sứ thần thu nhặt một ít máu mang về cho Đức Allah. Nhưng xem ra Đức Allah không bằng lòng mấy, Ngài bảo:
- Máu đổ ra cho tổ quốc và tôn giáo là một điều quí giá, nhưng vẫn chưa phải là điều tốt đẹp nhất nơi trần gian.
Sứ thần đành phải giáng thế một lần nữa. Lần này ngài gặp đám tang của một người giầu có nhưng rất quảng đại. Vô số người nghèo đi theo sau quan tài, vừa đi vừa khóc lóc vừa xông hương để biểu lộ lòng biết ơn của họ đối với vị đại ân nhân. Sứ thần liền thu nhặt hương thơm và mang về trời.
Lần này Đức Allah mỉm cười đón lấy hương thơm ngào ngạt. Nhưng xem ra vẫn chưa hài lòng, Ngài nói:
- Dĩ nhiên lòng biết ơn là một trong những điều tốt đẹp và hiếm có dưới trần gian. Nhưng Ta nghĩ rằng còn có một cái gì tốt đẹp hơn.
Lại một lần nữa, sứ thần đành phải vâng lệnh. Sau nhiều ngày tìm kiếm khắp bốn phương, một buổi chiều nọ ngồi nghỉ bên vệ đường ngài bỗng thấy một người đàn ông đang khóc sướt mướt. Trước câu hỏi đầy ngạc nhiên của sứ thần người đàn ông giải thích:
- Tôi đã chiều theo cơn cám dỗ mà phạm tội. Giờ đây nước mắt là lương thực hàng ngày của tôi.
Sứ thần giơ tay hứng lấy những giọt nước mắt còn nóng hổi và thẳng cánh bay về trời. Đức Allah chăm chỉ nhìn những giọt nước mắt rồi mỉm cười nói:
- Thế là người đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Quả thật, dưới trần gian không có gì tốt đẹp và hữu ích cho bằng lòng sám hối. Bởi vì nó có sức canh tân cuộc đời. Một lòng sám hối chân thật có sức biến đổi mùa đông giá rét của lòng người thành mùa xuân ấm áp của tình yêu.
Đức Allah của người Hồi Giáo mỉm cười trước những giọt nước mắt sám hối, còn Chúa Giêsu thì quả quyết: “Cả thiên đàng sẽ hân hoan vì một tội nhân hối cải”.
Mọi người chúng ta đều là tội nhân. Vì thế mà từng người chúng ta đều có vinh dự đem lại niềm vui cho Thiên Chúa và thần thánh trên trời.
Thiên đàng tuy đã tràn đầy hạnh phúc của Thiên Chúa, nhưng mỗi khi chúng ta ý thức được tội lỗi mình và thành tâm sấm hối là mỗi lần chúng ta hòa nhập vào niềm vui thiên quốc và làm cho niềm vui ấy như tràn đầy thêm lên.
Quả thực lòng sám hối chính là chiếc áo cưới Thiên Chúa đòi chúng ta khi bước vào Tiệc Cưới Nước Trời như bài Tin Mừng hôm nay. Amen.
Các tin khác
.: GIẢNG CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN (10/10/2026) .: DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI (10/10/2026) .: MỜI VÀO DỰ TIỆC CƯỚI (10/10/2026) .: CHẤP NHẬN LỜI MỜI DỰ TIỆC NƯỚC TRỜI (10/10/2026) .: GIỮ QUÂN BÌNH CHO CUỘC SỐNG (10/10/2026) .: ĐẠI TIỆC THIÊN QUỐC (10/10/2026) .: TIỆC CƯỚI VỚI BỐN NGHỊCH THƯỜNG (10/10/2026) .: Y PHỤC XỨNG KỲ ĐỨC (10/10/2026) .: PHÚC CHO NHỮNG AI ĐƯỢC MỜI DỰ TIỆC NƯỚC CHÚA (10/10/2026) .: BỮA TIỆC CỦA VUA TRỜI (10/10/2026) .: LỜI MỜI DỰ TIỆC CƯỚI (10/10/2026) .: CHIẾC ÁO CƯỚI CỦA TÔI (10/10/2026) .: VÀO HẾT DỰ TIỆC CƯỚI (10/10/2026) .: TIỆC CƯỚI NƯỚC TRỜI (10/10/2026) .: MẶC ÁO CƯỚI (10/10/2026)
Mục lục Lưu trữ
- Văn Kiện Giáo Hội
- Giáo Hội Công Giáo VN
- Tin Ngắn Giáo Hội
- Tài Liệu Nghiên Cứu
- Tủ Sách Giáo Lý
- Phụng Vụ
- Mục Vụ
- Truyền Giáo
- Suy Niệm Lời Chúa
- Lời Sống
- Gợi Ý Giảng Lễ
- Hạnh Các Thánh
- Sống Đạo Giữa Đời
-
Cầu Nguyện & Suy Niệm
- Cầu Nguyện
- Suy Niệm
- Cầu Nguyện Là Gì?
- Cầu Nguyện Từ Mọi Sự Vật
- Suy Niệm Đời Chúa
- Mỗi Ngày Năm Phút Suy Niệm, (Mùa Vọng -> CNTN) - Năm A
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A - Mùa Chay
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A - Mùa Phục Sinh
- Mỗi Ngày Năm Phút Suy Niệm - Mùa Chay, C
- Năm Phút Suy Niệm Lời Chúa - Tuần Thánh - Phục Sinh, C
- Năm Phút Suy Niệm Lời Chúa Mỗi Tuần Thường Niên C
- Năm Phút Suy Niệm, Năm B (2011-12)
- Năm Phút Suy Niệm, Năm C (2012-13)
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A (2013-14)
- Cầu Nguyện Chung
- Suy Tư Và Thư Giãn
- Thánh Ca Việt Nam
- Phúc Âm Nhật Ký
- Thơ
- Electronic Books (Ebooks)
- Vatican
- Liên HĐGM Á châu
- Đài Phát thanh Chân lý Á châu - Chương trình Việt ngữ
- Giáo phận Bà Rịa
- Giáo phận Ban Mê Thuột
- Giáo phận Bắc Ninh
- Giáo phận Bùi Chu
- Giáo phận Cần Thơ
- Giáo phận Đà Lạt
- Giáo phận Đà Nẵng
- Tổng Giáo phận Hà Nội
- Giáo phận Hải Phòng
- Tổng Giáo phận Huế
- Giáo phận Hưng Hóa
- Giáo phận Kon Tum
- Giáo phận Lạng Sơn
- Giáo phận Long Xuyên
- Giáo phận Mỹ Tho
- Giáo phận Nha Trang
- Giáo phận Phan Thiết
- Giáo phận Phát Diệm
- Giáo phận Phú Cường
- Giáo phận Qui Nhơn
- Giáo phận Thái Bình
- Giáo phận Thanh Hóa
- Tổng Giáo phận TP HCM
- Giáo phận Vinh
- Giáo phận Vĩnh Long
- Giáo phận Xuân Lộc
- Ủy ban BAXH-Caritas Việt Nam
- Ủy ban Công lý và Hòa bình
- Ủy ban Giáo dục Công giáo
- Ủy ban Giáo lý Đức tin
- Ủy ban Kinh Thánh
- Ủy ban Mục vụ Di dân
- Ủy ban Mục vụ Gia đình
- Ủy ban Nghệ Thuật Thánh
- Liên hiệp Bề trên Thượng cấp Việt Nam