Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 42

Tổng truy cập: 2304732

YÊU THƯƠNG LÀ CHU TOÀN LỀ LUẬT

YÊU THƯƠNG LÀ CHU TOÀN LỀ LUẬT

 

Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc, S.J.

1. Lòng ham muốn và tình thương

Trong bài đọc 2, trích thư Roma, thánh Phao-lô nhắc lại một số điều răn căn bản liên quan cách chúng ta ứng xử với nhau: “Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp…” Và còn nhiều điều răn nữa, của Thiên Chúa và của Hội Thánh, mà chúng ta vẫn nhắc lại trước khi dâng Thánh Lễ vào ngày Chúa Nhật. Những điều răn thánh Phao-lô vừa kể, liên quan đến những hành vi ngoại tình, giết người và trộm cắp.

Tuy có lúc này lúc kia, nhưng tất cả chúng ta đều có thể giữ tốt ba giới răn này. Tuy nhiên, thánh Phao-lô còn kể ra một giới răn khác, mà ai trong chúng ta cũng “chịu thua”, đó là giới răn: “Không được ham muốn” (Rm 13, 9), bởi vì lòng ham muốn không phải là một hành vi bên ngoài, để chúng ta cố gắng xa tránh, nhưng là một khuynh hướng của nội tâm, của con tim, mà không ai trong chúng ta không có và và không ai trong chúng ta có thể làm chủ được.

* Chúng ta không có hành vi ngoại tình, nhưng lòng ham muốn, thì không thể không có. Thế mà Đức Giê-su nói trong bài giảng trên núi: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình.Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi (Mt 5, 27-28).

* Chúng ta không giết người, nhưng lòng chúng ta đầy ghen ghét muốn loại trừ người khác. Thế mà Đức Giê-su nói: “Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà” (c. 22) ; và thánh Gioan còn nói mạnh hơn: “Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân (x. 1Ga 3, 15) ; bởi vì, khi ghét người anh em, chúng ta loại trừ người anh em ra khỏi lòng chúng ta, chúng ta “giết” người anh em trong lòng chúng ta.

* Cũng vậy, chúng ta không trộm cắp, nhưng trong lòng chúng ta khó tránh được lòng ham muốn của cải của người khác, ham muốn điều người khác có. Chúng ta ham muốn điều người khác có, và khi chúng ta không có được, chúng ta muốn phá hủy. Bởi vì, điều chúng ta muốn có, nhưng không có được, thì người khác không được phép có.

***

Không ai giữ được, nhưng tại sao thánh Phao-lô nêu ra giới răn “không được ham muốn”? Bởi vì đó là căn nguyên của mọi hành vi vi phạm Lề Luật. Lòng ham muốn như một năng lực bị dồn nén và có thể bùng phát thành hành động vi phạm và bạo lực bất cứ lúc nào. Và những điều này vẫn xẩy ra chung quanh chúng ta, trong môi trường sống chúng ta và có khi nơi gia đình chúng ta và nơi chính chúng ta nữa. Vậy thì phải làm sao? Điều gì giúp chúng ta làm chủ lòng ham muốn, chiến thắng lòng ham muốn, loại bỏ lòng ham muốn.

Đây là một thứ bệnh của con tim, thì chỉ có phương thuốc của con tim mới chữa lành được thôi: Đó là tình thương ; và thánh Phao-lô, trong bài đọc 2, nhắc đi nhắc lại “phương thuốc tình thương”:

Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật.

Các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy (Rm 13, 8.9b-10).

Tình thương chiến thắng lòng ham muốn. Nhưng làm sao có thể yêu thương, nếu không phải chính bản thân chúng ta đã được yêu thương, đã được bao dung, đã được tha thứ, đã được thương xót. Cũng trong thư Roma, thánh Phao-lô xác tín:

Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào,39 trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta (Rm 8, 38-39).

Chính Thiên Chúa yêu thương và bao dung chúng ta trước, nên chúng ta con tim chúng ta được tái tạo để có thể yêu thương và bao dung nhau, và có thể ứng xử với nhau như lời dạy của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng:

* Hết lòng kiên nhẫn và kiên nhẫn cho đến cùng đối với người anh em phạm tội.

* Được Đức Giê-su tin tưởng trao ban quyền bình ràng buộc và tháo cởi, nhưng không phải để kết án và giết chết, nhưng để cứu sống và tò bày tình thương và lòng thương xót của Đức Ki-tô cho mọi người.

* Và vì được Thiên Chúa yêu thương và bao dung, nên chúng ta có thể hiệp nhất với nhau trong cầu nguyện và có thể họp nhau nhân danh Đức Ki-tô. Điều làm đẹp lòng Thiên Chúa là bầu khí hiệp nhất, vì chúng ta được dựng nên là một như Thiên Chúa là một ; và Đức Ki-tô hiện diện ở giữa tương quan hiệp nhất yêu thương của gia đình và cộng đoàn của chúng ta.

Bài giảng của Đức Giê-su về Giáo Hội kết thúc, hay đúng hơn là hướng tới, với lời mời gọi tha thứ cho nhau đến “bảy mươi lần bảy” ; và sự tha thứ vô hạn chúng ta được mời gọi trao ban cho nhau đặt nền tảng và hướng tới chính ơn tha thứ vô hạn của Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Ki-tô chịu đóng đinh. Như thế, chính Thiên Chúa yêu thương và bao dung chúng ta trước, nên con tim chúng ta mới được tái tạo để có thể yêu thương và bao dung nhau, và để có thể ứng xử với nhau như lời dạy của Đức Giê-su về Giáo Hội.

2. Quyền bính và hoán cải

Ngay trước đó, Đức Giê-su đã trao quyền “tháo cởi và cầm buộc” cho chính thánh Phê-rô, với tư cách là “Đá Tảng”: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16, 19). Nhưng ở đây, quyền bính này, được Người phát biểu với cùng những từ ngữ, lại được trao cho nhóm, nghĩa là cho Giáo Hội:

Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy (Mt 18, 18 ; x. Ga 20, 23).

Việc thi hành quyền bính được thực hiện vừa bởi một người và vừa bởi cả nhóm ; như thế, sự quân bình được hình thành. Tuy nhiên, chúng ta được mời gọi vượt qua bình diện tổ chức và quyền bính để nhận ra sự tin tưởng mà Đức Ki-tô đặt để nơi Giáo Hội, vì quyền ở trên trời, nhưng lại được trao hết cho những con người mỏng dòn ở dưới đất! Sự tin tưởng thật trọn vẹn, trọn vẹn đến độ trời và đất như trở nên một. Vấn đề là Giáo Hội thi hành quyền bính theo năng động nào, của trời cao được thể hiện nơi ngôi vị và nơi mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô, để giáo huấn, làm cho lớn lên và cứu sống, hay theo năng động của đất thấp, nghĩa là thế gian, sự dữ, ma quỉ, để lên án, loại trừ và giết chết.

Một cách cụ thể khi phải đối diện với một thành viên phạm tội, là điều không thể tránh được trong đời sống đức tin của Giáo Hội: “Nếu người anh em trót phạm tội”. Nhưng thay vì dùng quyền để lên án và loại trừ, Đức Giê-su mời gọi sửa lỗi người anh em: “anh hãy đi sửa lỗi nó”. Và Đức Giê-su đề nghị cả một tiến trình rất sư phạm để giúp tội nhân hoán cải: ban đầu là cuộc gặp gỡ riêng tư và huynh đệ giữa hai người; tiếp đến, nếu tội nhân không nghe, thì thêm một hay hai người nữa; và cuối cùng, nếu tội nhân vẫn không nghe, thì Hội Thánh mới can thiệp. Và nếu tội nhân cũng chẳng nghe Hội Thánh, thì như Đức Giê-su nói: “hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế”; bị coi là “người ngoại hay người thu thuế”, theo cách nói của Do thái giáo, điều này có nghĩa là, người này không còn thuộc về cộng đồng.

Nhưng thực ra, khi từ chối lắng nghe lời khuyên bảo đến ba lần, tội nhân đã quyết định tự loại mình ra khỏi Hội Thánh rồi. Như thế, quyền bính chỉ được dùng đến khi giải pháp đối thoại trong kiên nhẫn và đức mến đã đi tới cùng và bị từ chối.

3. Quyền bính và cầu nguyện

Trong bài Tin Mừng, khi nói về đời sống Giáo Hội, Đức Giê-su còn nói đến bầu khí hiệp nhất trong lời nguyện xin và lời đáp trả chắc chắn của Thiên Chúa Cha, Đấng ngự trên trời:

Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho.

Lời của Đức Giê-su vừa mang lại cho chúng ta niềm hi vọng khi nguyện xin, và vừa làm cho chúng ta nhận ra rằng, điều làm đẹp lòng Thiên Chúa, chính là bầu khí hiệp nhất trong cầu nguyện và nhờ cầu nguyện, vì chúng ta được dựng nên là một như Thiên Chúa là một ; và Đức Giê-su cũng cầu nguyện và làm tất cả mọi sự để cho chúng ta nên một: “Xin cho họ nên một, như chúng ta là một”. Xin Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta biết kiên nhẫn cùng nhau nguyện xin và hướng chúng ta tới những ơn xin làm đẹp lòng Chúa Cha, nhất là những ơn xin làm cho chúng ta nên một, như Người dạy chúng ta trong kinh Lạy Cha.

Tuy nhiên, vì lời giáo huấn của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng hôm nay hướng tới việc cầu nguyện, chúng ta có thể hiểu lời của Đức Giê-su về “lời nguyện chung” còn phải là nền tảng của việc thi hành quyền bính, nhất là thi hành quyền bính trong việc sửa lỗi nhau cho nhau. Như thế, quyền bính không chỉ nhường bước cho đối thoại huynh đệ, nhưng còn phải được thực hiện, từ đầu đến cuối, trong cầu nguyện. Và cả khi tội nhân đã bị loại trừ khỏi cộng đồng, Giáo Hội vẫn được mời gọi kí thác người anh em cho lòng thương xót của Thiên Chúa và vẫn được mời gọi cầu nguyện cho người anh em ấy, tương tự như khi Người mời gọi chúng ta cầu nguyện cho kẻ thù (x. Mt 5, 43-48).

***

Và trong mọi sự, nhất là trong việc thi hành quyền bính, để mời gọi hoán cải trong bầu khi cầu nguyện, Đức Giê-su mời gọi Giáo Hội “họp lại nhân danh Thầy”. “Nhân danh Thầy”, có nghĩa là, trong đời sống đức tin, Giáo Hội và từng người chúng ta được mời gọi, không chỉ nhân danh Đức Ki-tô bằng lời nói, nhưng còn mặc lấy tâm tình của Đức Ki-tô. Chính khi đó, như Đức Giê-su nói:

Thầy ở đấy, giữa họ.

Như thế, ở mức độ tận cùng và sâu xa nhất, Giáo Hội được mời gọi để cho Đức Ki-tô tiếp tục hiện hiện, lên tiếng và hành động ở giữa loài người chúng ta, để tha thứ, chữa lành, giải thoát và tỏ bày tình yêu đến cùng của Thiên Chúa Cha, nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần.

 

12.Sửa lỗi nhau thế nào--Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng

Trong quyển sách về truyền thống của các vị ẩn tu có thuật lại câu chuyện sau đây: Một hôm, khi Đức Giám Mục A-mô-la đến thăm mục vụ một làng nọ, dân chúng đã bày tỏ với ngài lòng bất mãn tột độ của họ đối với một vị ẩn tu trên núi, vì ông ta đem theo một phụ nữ để chung sống. Vị ẩn tu này đã không ngớt là đối tượng để dân làng đàm tiếu, chỉ trích và lên án: "Hôm nay ngài đã đến đây thì ngài phải giải quyết dứt khoát tình trạng bê bối gây nhiều gương mù gương xấu của vị ẩn tu trên núi kia". Sau khi nghe những lời kết án gay gắt của dân làng, Đức Giám Mục quyết định leo lên núi. Ngài đi đầu, dân làng lũ lượt nối gót theo sau. Vị ẩn tu thấy đám đông kéo đến túp lều của mình thì hoảng sợ và bảo người phụ nữ chui vào trốn trong một chiếc thùng rỗng.

Đức Giám Mục là người đầu tiên đến trước túp lều và cũng là người đầu tiên bước chân vào. Ngài đưa mắt nhìn chung quanh và hiểu ngay tình hình. Ngài ung dung đi thẳng đến chiếc thùng gỗ và ngồi trên đó để nghỉ chân, rồi bình thản ra hiệu gọi dân làng vào và bảo: "Vào đây, anh chị em hãy vào mà lục soát túp lều để tìm người phụ nữ". Họ lăng xăng lục lọi, nhưng không tìm đâu ra bóng dáng người đàn bà. Khi ấy, Đức Giám Mục mới nói: "Bây giờ anh chị em phải quỳ xuống xin lỗi Thiên Chúa vì đã nói xấu vị ẩn tu này vô cớ". Nhưng sau đó, khi mọi người đã kéo nhau xuống núi, Đức Giám Mục tiến lại gần vị ẩn tu, nắm chặt hai bàn tay của ông, đưa mắt nhân từ nhưng cương nghị nhìn sâu vào đôi mắt của ông và chậm rãi nói: "Hỡi người anh em, hãy cẩn thận giữ mình kẻo mất linh hồn đấy".

Hai thái độ khác nhau đối với một người lầm lỗi giữa dân làng và Đức Giám Mục A-mô-la có thể giúp chúng ta hiểu giáo huấn của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay về việc sửa chữa lỗi lầm của nhau. Chúng ta thấy, ngược với phản ứng của dân làng, Đức Giám Mục A-mô-la đã cố gắng áp dụng lời khuyên của Chúa Giêsu. Trong một tình trạng khó xử, chúng ta thấy, trước hết, ngài đã tìm cách đem vấn đề đã được mọi người bàn tán trở thành một vấn đề cá nhân, để có dịp thuận tiện nói chuyện diện đối diện với vị ẩn tu. Tiếp đến, ngài đã không sửa lỗi ông như một người có thẩm quyền, trái lại, ngài đã dùng thẩm quyền của mình bảo vệ cho vị ẩn tu, để sau đó có thể khuyên nhủ ông như một người anh em. Sau cùng, dầu không cấu kết với đám đông để khinh thường và lên án vị ẩn tu đang vấp phạm, nhưng cũng không im lặng làm ngơ, ngài đã nêu bật mối nguy hiểm của lỗi lầm này đối với phần rỗi của đương sự, qua một lời khuyên nhẹ nhàng nhưng thẳng thắn: "Hỡi người anh em, hãy cẩn thận giữ mình kẻo mất linh hồn".

Sửa chữa anh em là một điều rất hợp thánh ý Chúa. Ngài không muốn cho tội nhân phải hư mất mà được hối cải và được sống. Sửa chữa nhau là điều luật của bác ái: yêu tha nhân như Chúa yêu thương chúng ta. Mà yêu người là muốn sự lành cho người, là lo lắng kéo người ta ra khỏi tình trạng tội lỗi, đưa đến chỗ thánh thiện.

Nhưng để việc sửa chữa anh em đem lại kết quả mong muốn, thì ngoài sự cầu nguyện là việc rất cần thiết cho mọi cuộc trở lại, chúng ta phải thực hiện theo phương pháp và thứ tự như Chúa Giêsu dạy. Trước hết là gặp gỡ riêng giữa hai người, chỉ hai người thôi, ta và người sai lỗi, nếu chưa kết quả, nhờ một hay hai người khác cùng góp ý, nếu không kết quả mới đưa ra cộng đoàn hay trình lên những vị có thẩm quyền để giải quyết, hoặc tiếp tục cầu nguyện. Nếu làm hết cách theo khả năng mà chưa kết quả, hãy nhận sự giới hạn của mình và phó dâng người anh em cho lòng nhân từ của Chúa.

Như vậy, giúp nhau sửa chữa lỗi lầm, thiếu sót là một việc rất tốt và rất cần, nhưng khi làm việc này chúng ta phải nhớ là chỉ nên gặp gỡ trực tiếp cá nhân mà thôi, cùng lắm chúng ta mới nên nói qua trung gian, vì như vậy tránh được một người khác biết lỗi lầm đó, và càng tránh được nhiều bao nhiêu càng tốt. Đồng thời chúng ta hãy tự hỏi: "Nếu tôi là người được sửa sai đó, tôi sẽ phản ứng thế nào?". Tự hỏi mình như thế chúng ta sẽ biết mình phải nói gì và phải cư xử ra sao, bởi vì mỗi người đều có lòng tự ái.

Tóm lại, cầu nguyện cho nhau, cầu nguyện với nhau và sửa chữa lẫn nhau, đó là ba đặc tính của các cộng đoàn Ki-tô hữu hoặc trong các đoàn thể, các gia đình, các giáo xứ. Cầu nguyện cho nhau thì dễ, cầu nguyện với nhau khó hơn một chút, vì phải đồng tâm nhất trí, nhưng sửa chữa nhau là điều khó hơn cả. Việc sửa chữa nhau đòi hỏi một tình yêu thương cao độ, thứ tình yêu mà thánh Phaolô nói là chu toàn được tất cả mọi điều luật, nghĩa là gồm tất cả các đức tính khác, thứ tình yêu thành thật, thiết tha, thông cảm, cởi mở, đến nỗi người sửa lỗi có thể nói được tất cả và người được sửa lỗi có thể đón nhận tất cả. Tình yêu nơi người sửa lỗi nhiệt thành, muốn cho anh em nên tốt thật, và sẵn sàng hy sinh thời giờ, sức khỏe, nhẫn nại, chịu đựng, cũng như đem tất cả tài năng để tìm ra những biện pháp cần thiết, không kém tế nhị, để đưa người anh em tới chỗ tốt lành thánh thiện. Tình yêu nơi người được sửa lỗi phải thiết tha với sự trọn lành, tỏ ra biết ơn người sửa chữa mình, khiêm tốn và vui vẻ đón nhận, cũng như cương quyết thi hành những điều sửa bảo để nên tốt.

 

13.Nghệ thuật sửa lỗi—Lm. JB. Lê Ngọc Dũng

Ngạn ngữ Tây phương có câu: “Con người là tội lỗi”. Chính vì vậy, ngay cả trong cộng đoàn Giáo Hội thánh thiện cũng có những người tốt và có cả những người chưa tốt, thậm chí còn có cả những người xấu nữa.

Cũng vì thế Chúa Giêsu muốn nêu lên tinh thần trách nhiệm của mỗi người là phải ân cần săn sóc cho nhau, giúp sửa lỗi cho nhau.

Tuy nhiên sửa lỗi cho nhau là một chuyện rất khó khăn. Đây là một nghệ thuật rất khó; khó đạt đến thành công mỹ mãn.

Theo lời chỉ dạy của Chúa Giêsu, điều đầu tiên là gặp gỡ riêng anh em. Tại sao lại phải gặp gỡ riêng trước? Ở đây chúng ta thấy hai điểm then chốt. Đó là tôn trọng danh dự anh em và có một mối dây liên đới thân tình.

Trong thế gian, người ta thường không tôn trọng danh dự người khác. Họ tố cáo những chuyện xấu, chuyện tội lỗi của kẻ khác; họ thường phê bình chỉ trích người khác; muốn hạ phẩm giá người khác. Ở đây, ngược lại, Chúa dạy chúng ta hãy giữ bí mật những tính hư nết xấu, những tội lỗi của kẻ khác. Khi ta nói ra điều xấu của kẻ khác thì ta đã xúc phạm đến danh dự người đó; khi đó ta đã phạm tội nói xấu kẻ khác. Có thể tật xấu hay tội đó là có thật, nhưng ta vẫn phải có bổn phận giữ kín và bảo vệ danh dự cho người khác; cũng như ta muốn bảo vệ danh dự cho mình. Trừ khi vì công ích nghiêm trọng đòi buộc, ta mới có thể tiết lộ những tbí mật xấu hay tội lỗi của kẻ khác.

Bên cạnh việc tôn trọng danh dự người khác, để có thể gặp gỡ riêng tư sửa lỗi thì ta cần có một mối liên hệ thân tình. Trong lời dạy của Chúa Giêsu, Ngài nói đến "người anh em" chứ không nói đến người dưng xa lạ. Vậy nếu chưa có đủ mối liên hệ thân tình, thì cần phải tạo mối liên hệ này trước khi gặp gỡ anh em. Mội đối xử tốt, nhận ra những điều tốt điều tích cực nơi người anh em là điều cần thiết để xây dựng mối thân tình và lòng nhiệt thành vô vị lợi của chúng ta.

Giai đoạn của việc sửa lỗi này nếu như không có kết quả, vì người anh em không chịu nhận lỗi và vâng phục, thì công việc sửa lỗi trong một cộng đoàn một tổ chức cần được tiến hành một cách từ từ, với sự góp ý của một vài người nữa để cho thấy sự việc mang tính khách quan hơn. Người lỗi phạm dễ chấp nhận phần lỗi hơn.

Sau đó, nếu vẫn không có kết quả, thì mới đưa lên cấp cao hơn để xét xử.

Trong tổ chức của Giáo Hội, đôi khi chúng ta thấy có sự việc phạt vạ người này người kia. Đó cũng là làm theo lời chỉ dạy của Chúa Giêsu.

Về phần người tín hữu của chúng ta, giai đoạn đầu tiên của việc sửa lỗi là đáng lưu ý hơn cả, vì nó thường xảy ra hơn, trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm. Bổn phận giữ kín chuyện xấu của người khác và gặp gỡ thân tình với sự tôn trọng danh dự người anh em là điều cần thiết.

Trong quyển sách về truyện các vị ẩn tu có ghi lại câu chuyện sau đây:

Ngày kia, khi giám mục Ambôtnat đến thăm mục vụ một làng nọ, dân chúng bày tỏ nỗi bất bình của họ đối với vị ẩn tu trên núi, vì ông ta đem theo một phụ nữ để chung sống. Từ dạo ấy, vị ẩn tu không ngớt là đối tượng cho dân làng đàm tiếu và lên án.

Đức Giám mục Ambônat vừa đến, họ xúm lại vây quanh ngài và nói: Hôm nay ngài đã đến, thì ngài phải chấm dứt ngay tình trạng sa đọa, bê bối gây nhiều gương mù gương xấu của vị ẩn tu trên núi kia.

Sau khi nghe những lời kết án gay gắt của dân làng, Giám mục quyết định leo lên núi. Ngài đi đầu và dân làng nối gót theo sau.

Vị ẩn tu thấy đám đông kéo đến thì hoảng sợ và hấp tấp bảo người phụ nữ hãy chui vào một chiếc thùng gỗ trống. Giám mục là người duy nhất đến trước túp lều, và là người đầu tiên bước chân vào. Ông đưa mắt nhìn chung quanh, và hiểu ngay tức thì. Ngài ung dung đi thẳng đến cái thùng gỗ và ngồi lên trên, và bình thản ra hiệu và bảo dân làng: “Anh chị em hãy lục soát túp lều để tìm người phụ nữ”.

Khi họ không tìm ra bóng dáng người đàn bà, Giám mục nói; “Anh chị em hãy xin lỗi Chúa, vì đã nói xấu vị ẩn tu này cách vô cớ.”

Nhưng sau đó, chờ đến lúc mọi người đã xuống dưỡi chân núi, Giám mục Ambônat mới tiến đên gần vị ẩn tu, nắm chặt tay ông, đưa đôi mắt nhân từ nhưng cương nghị, nhìn sâu vào đôi mắt vị ẩn tu và chậm rãi nói: Hỡi người anh em. Hãy cẩn thận giữ mình, kẻo phải mất linh hồn.”

Trong câu truyện trên, phản ứng của dân làng trước lỗi lầm của vị ẩn tu thì trái nghịch với giáo huấn của Chúa Giêsu. Họ đã vội vã đồn thổi, lên án và phao tin về tội lỗi của vị ẩn tu. Dân làng đã quyết định làm nhục và khai trừ ông ta. Ngược lại, vị giám mục Ambônat đã tìm cách đem vấn đề đã được mọi người bàn tán trở thành một vấn đề cá nhân, riêng tư. Ngài đã dùng thẩm quyền mình để bảo vệ vị ẩn tu. Sau đó, ngài khuyên nhủ ông như một người anh em.

Trong vấn đề khó khăn để sửa lỗi, chúng ta cần cảm nghiệm được Chúa Giêsu ở giữa cộng đoàn chúng ta, như lời Ngài đã hứa: “Ở đâu có hai hay ba người tụ họp lại nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa những người ấy.” (Mt 18,20). Nhờ sức mạnh tình yêu của Ngài, Ngài giúp chúng ta sửa lỗi trong tinh thần xây dựng, và nhất là trong niềm kính trọng và thương yêu chân tình. Những người đang lầm lỗi có thể so sánh như những bệnh nhân về tâm hồn, cần đến sự cảm thông và tình thương nhiều hơn để được nâng đở và khuyến khích trên con đường hoán cải đời sống.

 

home Mục lục Lưu trữ