Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 60

Tổng truy cập: 2302208

CÓ THA THỨ ĐƯỢC KHÔNG ?

CÓ THA THỨ ĐƯỢC KHÔNG ?

 

Đaminh Lê Văn Luận, SJ.

Tục ngữ Việt Nam có câu: “nhất tội nhì nợ”. Có tội và mắc nợ là nỗi thống khổ lớn lao của con người. Tuy vậy, kỳ diệu và may mắn thay, con người có thể tha thứ cho nhau. Tha thứ giải phóng con người khỏi gánh nặng của lầm lỗi. Tha thứ là chuyện khó khăn, nhưng đó không phải là điều bất khả đối với những người tin theo Chúa Giêsu.

Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật 24 Thường Niên A[1], ông Phêrô đã đặt câu hỏi với thầy Giêsu: “Lạy thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần. Có phải đến bảy lần không?”. Một câu hỏi rất thật tình, đầy lòng thiện chí và cũng ẩn chứa căng thẳng khôn nguôi giữa việc sống cho mình và sống cho người. Theo luật Môsê, người ta nên tha thứ cho kẻ xúc phạm đến mình ba lần.[2] Ba lần đã là một con số đáng mong đợi theo lề luật. Khi Phêrô nâng việc tha thứ lên tới bảy lần, ông có thể nghĩ mình đã là một người hết mực nhân từ. Việc đặt ra một giới hạn để bảo vệ phẩm giá chính mình thật là chính đáng. Tuy vậy, khi đi theo Chúa Giêsu, có điều gì đó thẳm sâu trong lòng thôi thúc ông phải đặt lại giới hạn của tha thứ. Chúa Giêsu là người kiện toàn lề luật, Phêrô muốn hiểu sâu hơn về luật tha thứ, và cũng muốn tha thứ như Thầy của mình.

Chắc hẳn tha thứ không phải là điều dễ dàng. Theo lẽ tự nhiên, ai cũng có quyền được người khác tôn trọng phẩm giá. Việc xúc phạm đến tự do, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích của một người cũng là xúc phạm đến hình ảnh Thiên Chúa nơi họ. Được trao ban cho trách nhiệm gìn giữ và phát triển phẩm giá của bản thân, người bị xúc phạm sẽ cảm thấy bị tổn thương, tủi hờn, giận giữ. Những cảm xúc phòng vệ này nổi lên cách tự nhiên nơi mỗi con người. Tuy vậy, cảm xúc ấy vẫn cần được nhận biết và gìn giữ để bản thân không bị kiểm soát và thúc đẩy đến mức cực đoan của những hành động trả thù, hoặc quay trở lại làm hại đến chính mình. Chúa Giêsu hiểu đau khổ của Phêrô khi bị người khác xúc phạm. Chúa không quở trách vì những cảm xúc khó chịu nơi ông, Chúa hướng ông đến sự tha thứ.

Sống với tha nhân, việc xúc phạm đến nhau là điều không thể tránh khỏi. Vì những giới hạn yếu đuối, và do ảnh hưởng của tội nguyên tổ, con người ai cũng có tội. “Nếu chúng ta nói chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta” (1Ga 1,8). Xét trong sự liên đới với nhau trong một gia đình nhân loại, tội một người ảnh hưởng đến tất cả mọi người. Thánh Phaolô đã ví mỗi cá nhân như một bộ phận của thân thể cộng đoàn. “Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau, nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cùng vui chung” (1 Cr 12,24-26). Đối với người bên cạnh mình, ta lại càng dễ dàng xúc phạm đến họ. Một lời nói vô tình, một ánh nhìn phán xét, sự ích kỷ ghét ghen, thói kiêu ngạo khoe khoang, các đam mê dục vọng – tất cả đều là thứ vũ khí sắc nhọn và có sẵn mà ta có thể gây tổn thương cho họ bất cứ lúc nào.

Người ta có lý khi nói rằng người ở gần mình nhất, người mình tin tưởng nhất lại là người có thể gây cho mình sự tổn thương nặng nề nhất. Nếu không tha thứ, những xúc phạm ấy có thể đưa đến những rạn nứt đỗ vỡ không bao giờ có thể hàn gắn được. Đã có bao cuộc chia lìa xảy ra trong mối tương quan giữa những người đã từng rất thân thiết: vợ với chồng, cha mẹ với con cái, anh chị em trong gia đình, những người bạn tâm giao… Khi thiếu vắng sự tha thứ và được thứ tha, nhiều đau thương tàn khốc tích luỹ dần từ những xúc phạm nhỏ nhặt hằng ngày. Câu hỏi mà Phêrô đưa ra trong đoạn Tin Mừng nói trên chắc hẳn cũng là nỗi ray rứt và bối rối của những ai sống phận làm người giữa cuộc nhân sinh. Tha thứ không dễ, mà không tha lại chẳng đành. Tha mấy lần cho đủ!

Chúa Giêsu trả lời câu hỏi của Phêrô bằng một câu trả lời vượt ra khỏi ý của người hỏi. Phêrô hỏi về mức giới hạn của tha thứ, Chúa dẫn Phêrô tới một sự tha thứ không giới hạn. Chúa diễn giải tinh thần tha thứ ấy bằng dụ ngôn tên đầy tớ không biết thương xót. Bảy lần so với bảy mươi lần bảy cũng nhỏ nhoi như một trăm đồng bạc so với mười ngàn nén bạc. Tiền công nhật của một người Do Thái thời Chúa Giêsu chỉ được một đồng bạc. Người ấy phải làm việc hai mươi năm mới kiếm được một nén bạc. Món nợ mười ngàn nén bạc là món nợ vô hạn không bao giờ có thể trả được.[3] Ấy vậy, khi đã được chủ tha cho món nợ khổng lồ, tên đầy tớ lại không thể tha món nợ nhỏ cho người bạn của mình. Giá như anh nhớ đến món nợ cuộc đời của mình, giá như anh biết ơn vì những gì đã nhận được, chắc anh sẽ chẳng hành xử như vậy đối với bạn bè mình. Tiêu chuẩn để tha thứ không còn là việc tha nhân đã xúc phạm đến mình như thế nào, nhưng là mình đã được tha thứ làm sao.

Điều cốt yếu trong tha thứ là khai thông những vướng mắc, hàn gắn những rạn nứt, xây dựng chiếc cầu nối tương quan giữa người với người. Nếu ai chỉ nghĩ đến mình, nếu ai loại người khác ra khỏi cuộc đời mình, chắc người đó không thấy mình cần phải tha thứ. Như vậy, tha thứ còn là điều cần thiết cho chính người bị xúc phạm. Người biết tha thứ tự giải phóng mình khỏi nhà tù vững chắc của một con tim khép kín trong cay đắng sầu hận. Tha thứ phá vỡ những bức tường ngăn cách, nối những nhịp cầu để toàn nhân loại giang rộng vòng tay yêu thương, cùng nhau ôm lấy và phủ lấp những giới hạn yếu đuối phận người. Vòng tay lớn rộng ấy chắc chắn có tâm điểm là một Thiên Chúa Tình Yêu, Đấng đã tự huỷ chính mình để mang ơn tha thứ xuống cho thế trần.

Lạy Cha chúng con ở trên Trời… xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Amen.

-----------------------------

[1] Mt 18,21-35. Tin Mừng Chúa Nhật 24 Thường Niên A, ngày 13.09.2020.

[2] John F Walvoord, Roy B Zuck, The Bible knowledge commentary: an exposition of the scriptures, vol III (USA: Victor Books, 1985), 62.

[3] John F Walvoord, Roy B Zuck, The Bible knowledge commentary: an exposition of the scriptures, vol III (USA: Victor Books, 1985), 63.

 

35.Tế nhị sửa lỗi người anh em--Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy

Tin Mừng Mt 18, 15-20: Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa dạy chúng ta, khi sửa lỗi người anh chị em, chúng ta phải theo tiến trình ba bước...

***

Trong quyển sách nói về truyền thống của các vị ẩn tu có thuật lại câu chuyện như sau:

Ngày kia khi Đức Giám Mục Amolas đến thăm mục vụ một làng nọ, dân chúng đã bày tỏ sự bất mãn tột độ của họ đối với một vị ẩn tu trên núi, vì ông ta đem theo một phụ nữ để chung sống.

Từ dạo ấy, vị ẩn tu là đối tượng để dân làng đàm tiếu, chỉ trích và lên án. Thấy Giám Mục Amôlas đến, họ xúm lại vây quanh ngài và nói: hôm nay ngài đã đến đây thì ngài phải chấm dứt ngay lập tức tình trạng sa đọa bê bối gây nhiều gương mù gương xấu của vị ẩn tu trên núi kia.

Sau khi nghe những lời kết án aây gắt của dân làng, Giám Mục Amôlas quyết định leo lên núi. Ngài đi đầu, dân làng lũ lượt nối gót theo sau. Vị ẩn tu thấy đám đông kéo đến túp lều của mình, ông ta hoảng sợ và bảo người phụ nữ chui ngay vào một cái thùng gỗ.

Đức Giám Mục là người đầu tiên đến trước túp lều, và cũng là người đầu tiên bước chân vào. Ngài đưa mắt nhìn chung quanh và hiểu ngay sự tình. Ung dung, ngài đi thẳng đến chỗ ngồi ngay trên chiếc thùng gỗ để nghỉ chân, nơi người phụ nữ ẩn trốn. Rồi ra hiệu cho dân làng vào và bảo:

- Vào đây, các người hãy vào mà lục xét túp lều để tìm người phụ nữ. Khi họ không tìm ra người phụ nữ, Đức Giám Mục mới nói:

- Bây giờ các ngươi phải quỳ xuống xin lỗi Thiên Chúa vì đã nói xấu vị ẩn tu này.

Sau đó, khi mọi người đã lục tục kéo nhau xuống núi, Đức Giám Mục Amôlas tiến lại gần vị ẩn tu, nắm chặt hai bàn tay của ông, đưa mắt nhân từ nhưng cương nghị nhìn sâu vào đôi mắt của ông và chậm rãi nói:

- Hỡi người anh em, hãy cẩn thận giữ mình kẻo mất linh hồn đấy!

Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa dạy chúng ta, khi sửa lỗi người anh chị em, chúng ta phải theo tiến trình ba bước.

- Trước hết hãy sửa lỗi anh em trong chốn riêng tư, kín đáo, để tạo niềm tin nơi họ.

- Nếu người anh em còn cố chấp thì đem theo một hai người có uy tín giúp họ nhận thức rõ về tội của mình, đó là bước hai.

- Nếu họ cũng không nghe thì mới đưa ra cộng đoàn, đó là bước thứ ba.

Qua câu chuyện vị ẩn sĩ trên, dân làng và ngay cả chúng ta, có khuynh hướng dùng chính Lời Chúa hôm nay để sát phạt vị ẩn sĩ sai phạm,  bằng cách lướt nhẹ bước một và bước hai để đi ngay vào bước thứ ba. Dân làng cũng như chúng ta hôm nay muốn đề nghị vị Giám Mục với quyền bính của ngài, đưa vị ẩn tu ra xét xử trước mặt cộng đoàn đang hiện diện. Nhưng chúng ta tự hỏi liệu cách này có mang đến kết quả không? Có thể có mà cũng có thể không, nhưng một điều chắc chắn là cách của Đức Giám Mục Amolas đã thắng ngay ở bước một.

Anh chị em thân mến, hai thái độ khác nhau giữa dân làng và Giám Mục Amôlas đối với một người lầm lỗi. Ngược lại với phản ứng của dân làng, Đức Giám Mục Amôlas đã cố gắng áp dụng lời khuyên của Chúa Giêsu: “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi”. Trong một tình trạng khó xử, Ngài đã tìm cách đem vấn đề đã được mọi người bàn tán trở thành một vấn đề cá nhân để có dịp thuận tiện nói chuyện diện đối diện với vị ẩn tu. Tiếp đến, ngài đã không sửa lỗi ông như một người có quyền. Trái lại, ngài đã dùng thẩm quyền của mình bảo vệ cho vị ẩn tu, để sau đó có thể khuyên nhủ ông như một người anh em. Và sau cùng, ngài đã không cấu kết với đám đông để khinh thường và lên án vị ẩn tu nhưng chỉ nói một câu rất nhẹ nhàng: “Hỡi người anh em, hãy cẩn thận giữ mình kẻo mất linh hồn”.

Qua cách cư xử của Đức Giám Mục Amolas, chúng ta thấy:

Muốn thành công trong việc sửa lỗi người khác, dù ở bước một, bước hai hay bước ba, chúng ta phải có những tâm tình như sau:

Trước hết, phải có một tâm tình yêu thương, đừng lên án, chỉ trích, nhưng luôn tế nhị dịu dàng.

Thứ đến, phải có lòng kính trọng chân tình, luôn giữ thể diện cho ngưới lầm lỗi,  đừng chà đạp lên lòng tự ái của họ. Kính trọng vì người anh em tuy có lỡ sai phạm nhưng vẫn có khả năng sửa đổi. Khinh miệt, lên mặt kẻ cả sẽ chỉ mang đến thất bại.

Sau cùng muốn sửa lỗi người anh em phải hết sức tế nhị. Tâm hồn người lầm lỗi rất mong manh. Vừa đầy tự ái vừa đầy mặc cảm. Một lời nói không khéo sẽ dẫn đến đổ vỡ. Một thái độ vô tình sẽ càng khơi thêm hố ngăn cách. Vì thế Chúa dạy chúng ta phải rất tế nhị khi sửa lỗi. Thoạt tiên chỉ gặp riêng một mình. Gặp riêng là một thái độ tế nhị. Sự tế nhị tạo nên cảm giác an toàn, kính trọng và yêu thương. Sự tế nhị tạo ra một bầu khí tín nhiệm thuận lợi cho việc cởi mở tâm tình, khai thông bế tắc. Sự tế nhị, yêu thương chân thành sẽ trở thành chiếc cầu đưa người lầm lỗi trở về cộng đoàn. Amen.

 

36.Cộng đồng huynh đệ--Lm. Hồng Phúc

Chúa Giêsu đã muốn thiết lập Giáo hội của Ngài như một cộng đồng Tình yêu, trong đó luật bác ái thương yêu là một giới răn mới, một dấu chỉ để biết ai là môn đệ của Chúa.

Nhưng Chúa cũng biết rằng đâu đâu cũng có những yếu đuối con người, đâu đâu cũng có những vấn đề giữa con người. Trong cộng đoàn bé nhỏ 12 môn đệ sống với Ngài, Chúa đã nghiệm thấy như vậy.

Giáo hội là một cộng đồng anh em, nhưng là một cộng đồng gồm người tội lỗi bên cạnh người lành.

Chúa phán: “Nếu anh em ngươi lỗi phạm, hãy đi sửa dạy nó”. Nhưng sửa dạy làm sao? Theo tinh thần Phúc Âm, việc sửa lỗi anh em là một việc rất tế nhị và gồm 3 công tác sau đây:

- “Hãy đi sửa dạy nó, riêng ngươi và nó thôi. Nếu không kết quả thì hãy nhờ đến hai ba người làm nhân chứng. Và sau cùng mới trình với cộng đoàn”. Đây là một thủ tục tình thương và bác ái dạy làm hết mọi sự để giữ một người anh em đang muốn xa lìa cộng đoàn. Vì thế, việc sửa lỗi anh em là một việc tế nhị, đòi hỏi vừa sự can đảm vừa sự thanh nhã, đồng thời phải có sự khiêm nhường và thông cảm với anh em. Đừng khơi thêm hố chia rẽ, nhưng hãy cầu nguyện để thành công, để đưa người anh em về đường công chính.

Chị Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, chung sống trong tu viện với một chị bạn tên là Marthe. Chị này có một tật xấu là quá quyến luyến Bà Mẹ bề trên. Têrêxa, sau nhiều tháng chờ đợi và cầu nguyện, chị quyết định nói. Trước khi nói, chị đã cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin cho con nhìn thấy đúng sự thật”, Chị đã nói với người bạn “với tất cả tâm hồn và với tất cả kinh nghiệm đã có”. Chị Marthe như được giải tỏa tâm hồn và cũng nhìn nhận rằng “Vị chăn chiên đừng nghe theo những lời dua nịnh dối trá, vì không có gì tai hại cho bằng những lời ca tụng đầy nọc độc”.

- Giáo hội theo lối quảng diễn của Matthêô còn là một cộng đồng tha thứ và liên đới, trong đó mỗi người có trách nhiệm về đức tin của anh em mình. Nếu sau nhiều cố gắng để đưa người anh em lầm lỗi trở về mà không có kết quả thì hãy trông cậy vào tình thương xót của Đấng chăn chiên tối thượng.

Cái quyền “tuyệt thông” đối với một người anh em làm cho ta nhớ lại một lời khác của Chúa về quyền năng của Giáo hội: “Sự gì các con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc và sự gì các con tháo gỡ dưới đất trên trời cũng tháo gỡ”. Quyền năng tha thứ đó, Chúa đã hứa cho Phêrô thì nay Chúa cũng ban cho các môn đệ. Đó là tập đoàn 12 Tông đồ Chúa đã tuyển chọn và sai đi, trong đó Phêrô giữ một vai trò trọng yếu. Chúa trao cho họ sứ mạng hòa giải và cứu rỗi. Như vậy dần dần Chúa đã thiết lập các cơ cấu của Giáo hội.

- Sau cùng, Giáo hội là một cộng đồng cầu nguyện. Nếu tội lỗi làm chia rẽ thì sự cầu nguyện nối kết và hiệp nhất chúng ta lại với nhau. Vì thế, cả những lúc có sự bất bình không đồng ý kiến, nếu có “hai hay ba người tụ họp với nhau nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa những người ấy”. Chúa ở đó như gạch nối niềm tin. Tám ngày sau phục sinh, một bầu khí chia rẽ cũng bao trùm các môn đệ. Tôma nằng nặc không muốn tin rằng Thầy đã sống lai. Chúa xuất hiện, sự hiện diện của Chúa đánh tan mối nghi ngờ, chia rẽ, đem lại sự hiệp nhất.

Khi viết đoạn Phúc Âm này, hẳn là Matthêô muốn nhắc nhở cho Giáo hội, đã lan rộng ra ngoài biên cương Do thái, đến Cận đông, đến cả Lamã rằng Chúa là sự hiệp nhất. Muốn có sự hiệp nhất, muốn tránh sự chia rẽ vì mầu sắc chủng tộc, văn hóa, thì Giáo hội phải cầu nguyện, phải tập họp “nhân danh Thầy” vì có Thầy ở giữa. “Thầy là trung tâm hội tụ mọi động lực” (Kinh của Teilhard de Chardin).

Lạy Chúa, xin dạy con biết khiêm tốn hòa nhã khi phải sửa lỗi anh em, xin dạy con biết cầu nguyện khi phải đương đầu với chia rẽ hiểu lầm, vì chỉ có Chúa là rường mối sự Hiệp nhất.

 

home Mục lục Lưu trữ