Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 37

Tổng truy cập: 2302165

DÂN NGOẠI

DÂN NGOẠI

 

Lm. Vũ Đình Tường

Người Thiên Chúa giáo Việt Nam có thói quen gọi người không cùng tôn giáo với mình là 'người ngoại'. Kiểu gọi vắn tắt này gây hiểu lầm cho các tôn giáo bạn. Khi dùng từ 'người ngoại' người nói ngụ ý chỉ người đó là người ngoài Thiên Chúa Giáo. Trong khi người nghe lại hiểu từ 'người ngoại' là người ngoại giáo, không có đạo. Cách hiểu thông thường, bình dân này gây tai hại trong tôn giáo. Có người đặt vấn đề không lẽ chỉ có Thiên Chúa giáo mới là đạo còn các tôn giáo khác đều không phải là đạo. Thực ra từ nguyên thuỷ 'người ngoại' không có ý nói người khác vô đạo hay coi thường các tôn giáo khác mà chỉ muốn nói người đó ngoài tôn giáo với mình. Kinh Thánh dùng từ 'người ngoại' khác với cách hiểu thông thường chung trong đại chúng.

Kinh Thánh dùng từ 'người ngoại' với hai ý. Ý thứ nhất chỉ những người không cùng tôn giáo Kitô. Ý thứ hai chỉ những Kitô hữu không sống theo tinh thần Phúc Âm, thiếu yêu thương và tha thứ. Họ sống trong cộng đoàn nhưng hành xử như người ngoài cộng đoàn. Đức Kitô còn dùng hình ảnh khác nói đến các Kitô người ngoại, đó là hình ảnh sói đội lốt chiên làm công việc cắn phá, âm thầm giết hại chiên. Bởi vì chúng mặc áo chiên nên khó nhận ra tính lang sói ẩn núp sau dáng điệu hiền từ của chiên. Chỉ sau khi trở thành nạn nhân lúc đó chiên mới nhận ra tính lang sói. Khi đã là nạn nhân thì không còn tư thế để phanh phui tính lang sói. Cũng có thể chiên bị chết còn đâu cơ hội để báo cho cộng đoàn biết sói đang sống giữa bầy chiên.

Như vậy trong đoàn chiên luôn có sói trá hình, đội lốt. Trong cộng đoàn Kitô hữu luôn có 'người ngoại' sống chung. Kitô hữu trở thành 'người ngoại' khi Kitô hữu chọn lối sống theo ý riêng mình. Bề ngoài thì họ là Kitô hữu như những người khác nhưng bên trong họ không có chất Kitô hữu trong mình. Chính vì thế mà khó phân biệt ai là Kitô hữu chân chính; ai là Kitô hữu ngoại lai. Kitô hữu ngoại lai sống chung với các Kitô hữu chân chính, ăn nói như những Kitô hữu chân chính. Họ cũng nhân danh cộng đoàn nói về Chúa, cũng nói về yêu thương, bác ái, cũng đôi khi, thỉnh thoảng tham dự thánh lễ, sinh hoạt chung trong cộng đoàn, đôi khi họ còn hăng say tranh đấu dành quyền lợi cho cộng đoàn. Những sinh hoạt trên có thể qua mặt, làm cho một số người hiểu lầm họ là Kitô hữu chân chính. Thực ra họ là Kitô hữu ngoại lai. Họ qua mặt loài người mà không thể qua mặt Đức Kitô, Đấng không nhìn bề ngoài mà thấu suốt bên trong tâm hồn con người. Đại đa số chúng ta đánh giá người khác qua việc đạo đức mà quên phần thánh thiện. Đức Kitô không nhìn người khác bằng hành động đạo đức bên ngoài. Ngài nhìn phần đạo đức xuất phát từ trong tâm hồn. Đạo đức đến từ tâm hồn được gọi một từ riêng là thánh thiện. Đạo đức bề ngoài không giúp cho người đó nên thánh. Chỉ có phần đạo đức thực sự đến từ trong tâm hồn, phần thánh thiện mới giúp cho Kitô hữu nên thánh. Đạo đức thánh thiện thực sự được thánh Phaolô nhắc lại điều Chúa dậy tóm gọn trong giới luật yêu thương.

Vì ai yêu người, thì đã giữ trọn lề luật. Đó là: Chớ ngoại tình; chớ giết người; chớ trộm cắp; chớ làm chứng gian; chớ mê tham... Ngươi hãy yêu mến kẻ khác như chính mình. Lòng yêu thương không làm hại kẻ khác Rm13,8-10

Câu đáp ca trong thánh lễ hôm nay cho biết dấu chỉ của Kitô hữu chân chính là Kitô hữu có lối sống khiêm nhường.

Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: Các ngươi đừng cứng lòng (c. 8).

Kitô hữu ngoại lai là Kitô hữu nghe tiếng Chúa nhưng vẫn cứng lòng. Như thế nào là cứng lòng, biến hoá, thoái hoá thành Kitô hữu dân ngoại. Phúc âm đưa ra thí dụ sau.

Nếu anh em ngươi lỗi phạm, hãy đi sửa dạy nó, riêng ngươi và nó thôi. Nếu nó nghe ngươi, thì ngươi đã lợi được người anh em. Nếu nó không nghe lời ngươi, hãy đem theo một hoặc hai người nữa, để mọi việc được giải quyết nhờ lời hai hoặc ba nhân chứng. Nếu nó không nghe họ, hãy trình với cộng đoàn. Và nếu nó cũng không nghe cộng đoàn, ngươi hãy kể nó như người ngoại giáo và như người thu thuế.Mt 18,15tt.

Kitô hữu không nghe lời giáo huấn của người lãnh đạo cộng đoàn trở thành Kitô hữu ngoại lai, chọn sống theo lối sống riêng, thích đấu tranh. Kitô hữu phạm lỗi mà từ chối nghe sửa dậy thì không thể là Kitô hữu chân chính. Bởi Kitô hữu chân chính khi lỗi phạm họ nghe theo lời chỉ dậy, sửa sai. Kitô hữu dân ngoại thiếu tinh thần khiêm nhường. Từ chối nghe theo hướng dẫn của người lãnh đạo cộng đoàn. Coi mình quan trọng hơn cả mọi người. Sống trong cộng đoàn để lợi dụng cộng đoàn làm bàn đạp gây thanh thế cho mình thì không thể coi là thành tâm phục vụ cộng đoàn.

Chúng ta hãy xin ơn chớ cứng lòng khi nghe tiếng Chúa.

Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: Đừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta. Tv 94,9.

 

47.Sinh hoạt trong đạo--Lm. Vũ Đình Tường

Sinh hoạt chung trong cộng đoàn dân Chúa là một nghệ thuật. Nghệ thuật sinh hoạt chung trong cộng đoàn đòi chấp nhận khác biệt và cảm thông. Cảm thông bao gồm cả việc chấp nhận thay đổi, quan tâm đến khó khăn của người và thực thi tình bác ái. Những điều này mang lại bình an và hài hoà trong đời sống mỗi thành viên và chung cho cả cộng đoàn. Mỗi người có cách sông riêng của cá nhân mình và những thành viên khác cần tôn trọng, với điều kiện cách sống riêng đó không ngược lại với tinh thần yêu thương, tha thứ trong Kinh Thánh. Bất đồng, tranh cấp, bất hoà xảy ra trong sinh hoạt chung là điều không thể tránh khỏi. Khi điều đó xảy ra tốt hơn hết là nên giải quyết càng sớm càng tốt. Mong rằng cứ làm lơ đi một thời gian bất hoà, tranh chấp sẽ chết theo thời gian là trốn tránh trách nhiệm của người lãnh đạo trong cộng đoàn. Bất hoà có thể không chết nhưng trở thành điều tai tiếng chung cho cả cộng đoàn và chia rẽ, bè phái là điều không thể tránh khỏi. Một khi đã có bè, phái, rạn nứt thì việc hàn gắn trở nên khó hơn và vấn đề giao hoà trở nên khó hơn gấp bội. Cá nhân và cộng đoàn thiệt thòi chỉ có kẻ ‘lợi dụng cơ hội’ là lợi hơn cả. Bất đồng dù lớn hay nhỏ đều gây nên rạn nứt và người lãnh đạo cộng đoàn cần tìm cách kiến tạo bình an cho cộng đoàn cũng như giúp các thành viên học khôn từ bất đồng và mục đích quan trọng nhất là giúp thành viên trung thành với đời sống đức tin. Danh Chúa không thể nào cả sáng nơi cộng đoàn có tranh chấp, bất hoà.

Cộng đoàn giải quyết bất hoà trong tâm tình yêu thương và công chính, không phải giải quyết theo phe phái hay thiên vị phe nhóm nhưng công tâm trong bác ái, yêu thương. Khi gặp vấn nạn phức tạp tiếng nói chung của người có trách nhiệm cần thể hiện tiếng nói của cả nhóm, không phải tiếng nói của người có uy tín nhất trong nhóm mà là tiếng nói chung cả nhóm đồng tâm như thế mới thể hiện được tiếng nói chung của cộng đoàn. Một khi tiếng nói chung bị từ chối người đó coi như tự tách mình ra khỏi cộng đoàn vì không công nhận quyền lãnh đạo chung của cộng đoàn. Từ chối như thế là tự chọn sống ngoài cộng đoàn, dù vẫn đang sống trong cộng đoàn nhưng cách xử thế là ngoài cộng đoàn. Trong truờng hợp này cộng đoàn không còn cách nào khác bằng cách thừa nhận tính cách chọn lựa của cá nhân đó. Chọn sống ngoài cộng đoàn chính là chọn đời sống của kẻ không tin Chúa hay đời sống của dân thu thuế. Người thu thuế thời Đức Kitô là người không tôn thờ Thiên Chúa nhưng là người cộng tác với thế lực ngoại bang để làm hại chính dân mình.

Tiếng nói chung của ban lãnh đạo là tiếng nói của con người nhưng tiếng nói đó được chính Đức Kitô xác nhận là cần thiết. Khi họ hội họp bàn về công việc chung trong tinh thần cầu nguyện chân thành, cởi mở và tinh thần bác ái thì họ nhận được ân sủng Chúa. Đức Kitô hiện diện trong các buổi sinh hoạt cầu nguyện thành tâm như thế. Cộng đoàn đức tin là nơi giúp giải quyết những bất đồng, chia rẽ nhưng cũng là nơi phát sinh bất đồng, chia rẽ. Cộng đoàn nâng đỡ, ủi an và chia sẻ khó khăn của mọi thành viên nhưng thành viên cũng có trách nhiệm chu toàn bổn phận cộng đoàn.

 

48.Giêsu: người cảnh báo trong chân lý và tình thương--Lm. Giuse Phạm Ngọc Khuê

Kính thưa quý anh chị em,

Quan sát các nhóm vật sống trên trái đất, người ta dễ nhận thấy có những cá thể làm nhiệm vụ cảnh báo. Cá thể cảnh báo đứng ở những nơi cao hơn, thoáng đãng hơn, giúp quan sát dễ hơn. Khi có dấu hiệu khả nghi, đe dọa, chúng phát tín hiệu để cả nhóm di chuyển đến nơi an toàn.

Cảnh báo được hình thành từ kinh nghiệm, nhằm duy trì, bảo vệ sự sống. Không ai phủ nhận giá trị khách quan của nhiệm vụ cảnh báo.

Đối với con người có trí khôn, cảnh báo trở thành một ngành khoa học công nghệ cao phục vụ chất lượng cuộc sống.

Tuy nhiên, con người toàn diện còn cần sự cảnh báo thiêng liêng để sống xứng đáng phẩm giá Chúa ban, được hạnh phúc và sự sống muôn đời.

Lời Chúa hôm nay trình bày kế hoạch cứu độ được thực hiện trong Chúa Kitô: công trình cảnh báo trong chân lý và tình thương.

Bài đọc I, trích sách ngôn sứ Ézékiel, nói về việc Chúa gởi các vị ngôn sứ làm nhiệm vụ cảnh báo, canh chừng cho nhà Israel.

Trước hết, họ phải là người được Thiên Chúa tuyển chọn, cắt đặt, mới đủ tư cách trở thành người phát ngôn: “Ta đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Israel” (Ez 33, 7).

Kế đến phải là người trung tín và trung thực:

* Trung thành trong ơn gọi và sứ vụ đã lãnh nhận, không thối lui, nản chí trước những thử thách, gian truân. Trong mọi hoàn cảnh vẫn giữ được lòng trung thành cho đến chết, mới xứng đáng lãnh nhận triều thiên sự sống. Thánh tử đạo Phao-lô Phạm Khắc Khoan (chịu chém tại Ninh Bình) trả lời quan tổng đốc: “Cả đời tôi thuyết giảng đạo thập giá, không lẽ gì tôi chối bỏ và chà đạp thánh giá” (cf. Hạnh các thánh tử đạo Việt Nam). Lòng trung tín là điều kiện tiên quyết của người được chọn và được sai đi.

* Trung thực: chuyển tải đúng nội dung sứ điệp ủy thác, không thêm, bớt, cắt nghĩa theo cảm quan loài người, phải cảnh báo khi thuận, cũng như nghịch cảnh. Chúa nói với vị ngôn sứ: “Ngươi nghe lời miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết” (Ez 33, 7). Sự trung thực với Lời làm cho ngôn sứ bị thiêu đốt, sống trong mòn mỏi, bách hại mọi lúc, mọi nơi, nhưng đó lại là phần thưởng Chúa hứa cho những ai hết lòng trung tín: “Ngươi hãy giữ lòng trung thành cho đến chết, Ta sẽ ban cho ngươi triều thiên sự sống” (Kh 2, 10c).

Đòi hỏi đối với vị ngôn sứ trong bài sách thánh, cũng là đòi hỏi đối với tất cả thừa tách viên Lời Chúa trong Giáo Hội. Các linh mục phục vụ Lời, phải rao giảng Lời Chúa, không quảng diễn sự hiểu biết cá nhân, lại càng không được lợi dụng giảng đài để công kích, thóa mạ, trút giận lên đoàn chiên. Các ngài phải noi gương Chúa Giê-su lấy lời hiền lành, khiêm tốn và nhất là gương sáng đời sống, khích lệ dân Chúa để khao khát nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành, chuyên chăm lắng nghe, thực hành Lời Chúa.

Chúa Giê-su, trong bài Tin Mừng, đặt những nguyên tắc nền tảng trong việc sửa lỗi. Không chỉ nêu nguyên tắc, những trên tất cả, Ngài thực hành các nguyên tắc, làm mô phạm cho tất cả chúng ta.

Giê-su là mục tử nhân lành, hiểu biết nhu cầu đoàn chiên. Người lấy lời hằng sống và chính thịt máu mình làm lương thực nuôi chiên. Sẵn sàng đối đầu với muông sói để bảo vệ chiên. Chữa lành mọi thương tích, bệnh tật, để chiên được sống và sống dồi dào.

Rõ ràng, Giê-su là người cảnh báo có thẩm quyền, thực thi sứ vụ trong chân lý và tình thương. Nơi Người, mọi ý muốn của Thiên Chúa đều được thực hiện: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Người đã xức dầu cho tôi, sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó, băng bó cho kẻ bị thương tích, giải phóng cho kẻ bị tù đày..., loan báo năm hồng ân của Thiên Chúa” (Lc 4, 18 – 19).

Ngài cảnh báo bằng những bước phù hợp tâm trạng mỗi đối tượng: sửa lỗi rất quyết liệt, dứt khoát, không nhục mạ, chà đạp nhân phẩm người phạm lỗi, trái lại, tạo niềm vui mừng, hy vọng cho kẻ trỗi dậy trở về.

Bước 1: Sửa lỗi kín đáo, gặp gỡ cá nhân. Không làm cho người sai lỗi phải xấu hổ trước đám đông. Mục đích nhắm tới là sự hoán cải, không biến họ thành đề tài đàm tiếu, nạn nhân của kỳ thị khinh khi.

Bước 2: Nếu bước 1 bất thành, mới cần đến nhân chứng, ép người phạm lỗi chấp nhận sự thật. Cuối cùng, mới đưa ra cộng đoàn, không nhằm trừng phạt, nhưng đặt họ trong tình trạng lưu đày. Tình trạng sau cùng này cũng là cơ may giúp họ nhận ra ý Chúa, quyết tâm trỗi dậy trở về nhà Cha, như người con hoang đàng đã làm.

Trên tất cả, người được chọn làm nhiệm vụ cảnh báo phải mặc lấy tâm tư của Chúa, giầu lòng xót thương. Cảnh báo trong chân lý và tình thương, mới có thể đưa họ về với Chúa.

Thánh Phao-lô, trong bài đọc II, xác định linh hồn của mọi hoạt động tông đồ là “tình yêu” và là mối dây ràng buộc mọi điều toàn thiện. Nếu con người chỉ mắc nợ nhau bằng tình yêu tương thân tương ái, họ sẽ giúp nhau nên hoàn hảo.

Dạy dỗ, cảnh báo trong chân lý và tình thương là chu toàn lề luật mến Chúa, yêu người và cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương.

Đối với Phao-lô, tình yêu là ngôn ngữ của trời, vì nó phát xuất từ Thiên Chúa, cội nguồn tình yêu tuyệt đối. Đức ái là con đường siêu vời dạy chúng ta biết sống kiên tâm, nhẫn nại, chịu đựng, tha thứ, cảm thông, biết chia vui cùng lòng chân thật.

Thưa anh chị em,

Giáo huấn Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta cách sửa lỗi cho nhau. Đây là nhiệm vụ quan trọng và tế nhị. Làm thế nào sửa lỗi, cảnh báo để người sai lỗi có thể chấp nhận thực trạng tâm hồn mình? Trước hết cần đến ơn Chúa và sự khôn ngoan để có thể cảnh báo họ đúng nơi, đúng lúc. Ơn Chúa đến với chúng ta qua cầu nguyện. Tôi có cầu nguyện nhiều cho họ không? Phải cầu xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, ban ơn khôn ngoan, ban lòng thương xót Chúa, để việc chúng ta làm có sức lay động tâm hồn người nghe, giúp họ tự vấn lương tâm: “tôi phải làm gì?” như dân chúng từng xin thánh Gio-an Tiền Hô chỉ dạy.

Cần ý thức mình cũng là tội nhân. Phải luôn hoán cải, canh tân. Chỉ khi mắt tâm hồn mình sáng, mới có thể làm người dẫn đường cho tha nhân.

Trên tất cả, cảnh báo bằng gương sáng đời sống đạo đức có sức lôi kéo và thuyết phục hơn rất nhiều: “lời nói như gió lung lay, gương lành như tay lôi kéo”. Kitô hữu phải là ánh sáng, là men, là muối cho trần gian, có như thế, nhiệm vụ cảnh báo và sửa lỗi của chúng ta mới đem lại kết quả mong muốn, vì luôn được đặt trên nền tảng: chân lý và tình thương.

Xin Chúa thương nâng đỡ và chúc lành cho cộng đoàn chúng ta trong ngày chủa nhật hôm nay. Amen.

 

49.Một cuộc tìm kiếm có tên là cứu độ--Lm. Minh Anh

“Anh em chớ mắc nợ ai điều gì, ngoài món nợ yêu thương”.

Kính thưa Anh Chị em,

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay đặt chúng ta trên một con đường khá gay gắt, một con đường có tên là yêu thương, con đường có tên là kiếm tìm nhưng cũng là một con đường có tên là cứu độ. Thiên Chúa đặt Êzêkiel làm người tìm kiếm dân Chúa, đưa những người lầm lạc trở về; với bài Tin Mừng, Chúa Giêsu chỉ ra tuần tự các bước trên con đường ấy: bước yêu thương, bước khiêm hạ, bước gặp gỡ và quan trọng nhất, nhìn nhận kẻ lầm lạc là người anh em. Thánh Phaolô nói trong bài đọc thứ hai hôm nay, “Anh em chớ mắc nợ ai điều gì, ngoài món nợ yêu thương”.

Hội Thánh Chúa Kitô là một Hội Thánh lữ hành; ở đó, không phải tất cả con cái Hội Thánh là thiên thần, là cá lớn, là lúa tốt; nhưng ở đó, khi mọi người đang trên đường nên thánh, còn có cả những con người yếu đuối như chúng ta và nhiều khi, đáng thương hơn chúng ta về phần linh hồn. Thiên Chúa muốn chúng ta đi tìm kiếm họ. Đó cũng là những con người đang được Thiên Chúa xót thương, Người muốn chúng ta thương xót nhau; đó có thể là những tội nhân, những cỏ lùng và dù gì đi nữa, thì trước hết đó vẫn là người anh em, chị em của tôi; những người đáng được tôi yêu thương như chính bản thân như giới răn thứ hai đòi hỏi.

Trong bài đọc thứ nhất, Thiên Chúa nói với Êzêkiel, “Khi nghe lời miệng Ta nói, ngươi hãy loan báo cho chúng thay Ta. Khi Ta phán cùng kẻ gian ác rằng, ‘Hỡi kẻ gian ác, mi sẽ phải chết’; nếu ngươi không chịu nói để kẻ gian ác bỏ đường lối mình, thì chính kẻ gian ác sẽ chết trong sự gian ác của nó, nhưng Ta đòi máu nó bởi tay ngươi”. Êzêkiel không thể thoái thác lời Thiên Chúa, ông phải đến với dân, cũng như chúng ta không thể không cất bước đi tìm kiếm người anh em đang trên đường hư mất. Như việc Con Thiên Chúa xuống thế làm người mang ý nghĩa cứu độ thế nào, thì cuộc tìm kiếm người anh em lầm lỗi của chúng ta cũng mang tính cứu độ như thế; yêu thương ai, trước hết là muốn cho người ấy được cứu độ. Vì thế, tìm kiếm người anh em là một cuộc tìm kiếm có tên là cứu độ.

Thánh Vịnh đáp ca hôm nay là một lời van xin của những ai được sai đi trong yêu thương ngỏ với người anh em lầm lạc của mình, “Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người, ‘Các ngươi đừng cứng lòng’”. Đó phải là một lời van xin thực sự chứ không phải là một mệnh lệnh; một lời van xin như Thánh Ambrôsiô đã van xin Augustinô quay trở về, “Với chúng ta, Đức Kitô là tất cả! Nếu con có một vết thương cần phải chữa lành, Đức Kitô chính là vị lương y; nếu con khát khô vì cơn sốt, Đức Kitô chính là dòng suối mát; nếu con cảm thấy chán nản vì những bất công trong cuộc đời, Đức Kitô chính là Đấng công bình và rất mực công minh; nếu con cần giúp đỡ, Đức Kitô là sức mạnh; nếu con sợ chết, Đức Kitô là sự sống; nếu con khát mong nước thiên đàng, Đức Kitô là con đường dẫn về thiên quốc; nếu con ở trong bóng tối, Đức Kitô chính là ánh sáng… Hãy nếm thử và hãy nhìn xem, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao, phúc cho những ai cậy trông nơi Người!”.

Đặc biệt với bài Tin Mừng, Chúa Giêsu phác hoạ một trình tự tiệm tiến của một lộ trình yêu thương và tìm kiếm vốn đòi hỏi sự bền chí khi chúng ta đi tìm người anh em đáng thương của mình. Con đường này được đặt nền móng trên lòng thương xót và sự khiêm hạ, một con đường mà Thiên Chúa luôn chúc lành cho những ai thành tâm cầu xin. Thông thường, khi một ai đó sai lỗi, chúng ta phê phán, lên án và quên mất người ấy là anh em, chị em; hậu quả là chúng ta dễ dàng loại trừ; đó là dấu hiệu của việc thiếu thương xót. Thương xót thật sự sẽ giúp chúng ta nhận thức sai lỗi của người anh em như là cơ hội cho một tình yêu lớn lên và đó phải là khởi đầu cho bước kiếm tìm. Bởi thế, việc công khai tội của người anh em không bao giờ là bước đầu tiên, thay vào đó là âm thầm cầu nguyện, tìm kiếm, ước ao gặp gỡ và hoà giải.

Vậy làm sao để tiếp cận người anh em, nhất là khi họ chống lại chúng ta? Đây là một công việc vô cùng khó khăn vốn đòi hỏi nhiều lời cầu nguyện, hy sinh, nỗ lực và sáng tạo. Trước hết, trong yêu thương, tìm kiếm đối thoại chỉ giữa hai người; tiếp đến, nếu cần, mời những người đáng tin trợ giúp; và sau cùng là đưa đến Hội Thánh. Mục đích cuối cùng là Thiên Chúa, là sự thật, để sự thật đó có thể phục hồi sớm nhất mối tương quan hiệp nhất của người anh em với Chúa và Hội Thánh. Chỉ sau khi đã cố gắng hết sức mà vẫn hoài công, chúng ta mới nghĩ đến việc rũ bụi chân và phó thác người anh em cho lòng thương xót của Thiên Chúa và đừng quên cầu nguyện và hy sinh cho họ gấp bội; cả khi điều xấu nhất xảy ra, hành vi rũ bụi chân vẫn là một hành vi yêu thương vốn vẫn hy vọng một ngày nào đó, người anh em sẽ nhận ra hệ trọng của những lầm lỗi họ gây nên để quay trở về. Qua thư Rôma hôm nay, chúng ta được Thánh Phaolô nhắc nhở, “Anh em chớ mắc nợ ai điều gì, ngoài món nợ yêu thương”.

Một lần nọ, khi một nhóm 50 người trong cùng một công ty đang tham dự một cuộc hội thảo thì bất ngờ, vị diễn giả dừng lại và quyết định làm một hoạt động nhóm. Mỗi người được trao một quả bóng để viết tên mình lên đó bằng một bút lông. Toàn bộ số bóng được thu lại và để vào một căn phòng. Những người tham gia sau đó, được yêu cầu trong vòng năm phút, tìm lại quả bóng có tên mình. Tất cả nháo nhào đi tìm; họ xô xát, húc đẩy nhau, tạo thành một mớ hỗn độn người và bóng trong căn phòng. Năm phút trôi qua trong hỗn loạn, không ai tìm được quả bóng đang bay lên rơi xuống của mình. Vị diễn giả tiếp tục yêu cầu những người tham gia chọn ngẫu nhiên một quả bóng trong phòng và tìm kiếm người có tên được ghi trên quả bóng. Thật đáng kinh ngạc, trong không khí thân thiện, chưa tới năm phút ai nấy đã cầm trên tay quả bóng ghi tên mình.

Anh Chị em,

Đẹp thay bước chân người đi loan báo Tin Mừng, loan tin bình an; và cũng đẹp thay bước chân ai đi tìm kiếm người anh em, chị em đang hư mất của mình. Mỗi chiếc bóng trong câu chuyện tượng trưng cho tình yêu, phẩm giá, sự tha thứ và lòng xót thương của chúng ta dành cho người anh em đáng thương mà chúng ta đang kiếm tìm. Hạnh phúc của người anh em cũng chính là hạnh phúc của chúng ta; trái tim của chúng ta chỉ được lấp đầy khi trái tim ai đó cũng được lấp đầy và thương tích ở đó được chữa lành. Thánh Phaolô thật chí lý, “Anh em chớ mắc nợ ai điều gì, ngoài món nợ yêu thương; vì yêu thương là chu toàn lề luật”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, ai cũng được Chúa thương, và xem ra, ai cũng nói, Chúa thương họ nhất và con cũng thế. Xin cho con biết thương người anh em lầm lỗi của con, cho con biết cất bước đi tìm họ, một cuộc tìm kiếm có tên là cứu độ”, Amen.

home Mục lục Lưu trữ