Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 54

Tổng truy cập: 2117361

TỪ BỎ

TỪ BỎ

 

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng OP

Năm 1994, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong chân phước cho chị Mác-đa-la Mô-ra-nô, là một nữ tu thuộc dòng Đức Mẹ Phù Hộ. Ngay từ thuở niên thiếu, Mác-đa-la đã phải nếm mùi tang tóc, chỉ trong vòng một tháng, thần chết đã hai lần đến gõ cửa nhà chị và cướp mất hai cột trụ của gia đình: người cha và người chị cả, những ngày đen tối bắt đầu đè nặng trên vai bà quả phụ Ca-ta-ri-na với bốn đứa con thơ dại.

Hồi đó Mác-đa-la mới 8 tuổi, nhưng đã tỏ ra khôn ngoan và chín chắn, thấy mẹ đau buồn và khóc hoài, chị thường nói với mẹ: “Mẹ ơi, thôi đừng khóc nữa, chẳng bao lâu con sẽ khôn lớn và con hứa sẽ giúp mẹ thật nhiều như bố và chị Phan-xi-ca đã giúp mẹ vậy”. Nhưng không phải tới lúc khôn lớn mà ngay từ bây giờ, vì nhu cầu và hoàn cảnh khó khăn của gia đình, Mác-đa-la đã ngồi xuống trước guồng tơ dệt chỉ mà chị Phan-xi-ca đã để lại.

Một hôm, tình cờ cha Ban-den-la, người anh họ của mẹ đến chơi và biết Mác-đa-la không được đi học, cha hứa sẵn sàng phụ giúp thêm vào nhu cầu vật chất của gia đình và trả tiền học phí cũng như tiền sách vở cho Mác-đa-la đi học. Sau hơn 10 năm chăm chỉ học tập, chị đã tốt nghiệp và trở thành một cô giáo trường làng, thế là Mác-đa-la đã bắt đầu làm việc để phụ giúp gia đình. Suốt 16 năm trời, chị đã giữ lời hứa với mẹ, hơn nữa, chị biết mẹ luôn ấp ủ một ước muốn thầm kín là có được một căn nhà với mảnh vườn nho nhỏ, những luống rau và mấy giàn nho ngon ngọt. Vì thế, chị đã chuyên cần làm việc và âm thầm dành dụm, giảm bớt chi tiêu không cần thiết. Đến ngày sinh nhật thứ 30 của mình, Mác-đa-la dẫn mẹ đến xem mảnh đất với căn nhà và khu vườn như mẹ mong ước, chị âu yếm nói với mẹ: “Thưa mẹ, đây là món quà con xin biếu tặng mẹ, con chỉ xin mẹ một điều là cho phép con tận hiến cuộc sống còn lại của con cho Chúa để đáp lại tiếng gọi của Ngài vẫn thúc giục con từ lâu rồi”.

Quyết định của Mác-đa-la đã gây đau khổ nhiều cho mẹ chị, cho cha xứ, bạn bè và các phụ huynh học sinh của chi, vì họ mất đi một người con hiếu thảo, một người bạn tốt, một giáo viên gương mẫu, một người giáo dân nhiệt thành việc tông đồ. Trái lại, trong tâm hồn chị trào dâng một niềm vui mừng, vì chị có thể thực hiện được ước mơ chị đã ấp ủ từ lâu.

Ngày chia ly không khỏi ngậm ngùi đau xót, nhưng chị đã tìm được sức mạnh nơi tình yêu và lời nói của Chúa: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy”. Đồng thời chị cũng được sự an ủi vì tin vào lời Chúa đã hứa: “Quả thật, Thầy bảo cho anh em rõ, không ai bỏ nhà cửa, cha mẹ, vợ con, anh chị em vì nước Thiên Chúa mà lại chẳng lãnh nhận gấp trăm ở đời này và sẽ được sống đời sau”. Thật vậy, lời hứa ấy đã thể hiện qua suốt 30 năm sống đời tận hiến, trong đó, hơn 25 năm hăng say với sứ mệnh tông đồ giữa giới trẻ nghèo khổ, bị bỏ rơi tại đảo Xi-xi-li-a. Và Chúa đã thưởng cho chị qua việc Đức Giáo Hoàng tôn phong chị lên bậc chân phước để mọi người ngưỡng mộ và tôn kính.

Kể lại câu chuyện trên để minh họa cho bài Tin Mừng hôm nay. Bài Tin Mừng này là đoạn cuối trong bài giảng dạy về truyền giáo của Chúa Giêsu. Ngài nói với các tông đồ, và qua các ông, nói với mọi Kitô hữu về sự từ bỏ tất cả mọi sự để đi theo làm môn đệ Ngài và Ngài hứa ban thưởng bội hậu cho họ. Tại sao Chúa đòi hỏi như vậy và đòi hỏi như vậy có nghịch lý không? Quả thực, con đường theo Chúa vốn đầy những nghịch lý, một trong những cái nghịch lý ấy là điều kiện để theo Chúa. Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu cho biết điều kiện đó là phải từ bỏ tất cả: gia đình, của cải, nghề nghiệp và chính bản thân mình. Cái nghịch lý là ở chỗ đó. Muốn theo Chúa, phải từ bỏ hết, phải từ bỏ tất cả, nghĩa là coi Chúa hơn hết tất cả mọi người, hơn hết tất cả mọi sự và tin vào một mình Chúa thôi.

Có người cho rằng: những điều trên đây Chúa chỉ dạy riêng cho những người đi tu mà thôi, nói thế cũng đúng, nhưng những lời Chúa dạy đây không phải là không áp dụng được cho tất cả chúng ta, bởi vì với mỗi người, Chúa cũng đòi hỏi phải từ bỏ, không phải từ bỏ để đi tu hay để làm tông đồ cho Chúa, nhưng trong cuộc sống, chúng ta cũng có nhiều cái, nhiều điều và nhiều lần phải từ bỏ.

Tóm lại, trong đời sống thường ngày, người Kitô hữu bị giằng co giữa một bên là tình cảm gia đình, bên kia là đòi hỏi của Chúa; hoặc một bên là quyến rũ của tiền tài, danh vọng, sống buông thả, một bên là sự trung thành với lý tưởng Kitô giáo. Trong những trường hợp giằng co như vậy, chúng ta sẽ chọn thế nào và phải làm gì? Bài Tin Mừng hôm nay soi sáng và hướng dẫn chúng ta hãy chọn đúng và thực hành đúng.

 

17.Sống xứng với Chúa--Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Chúa Giêsu hôm nay cất tiếng mời gọi con người, cách riêng là người môn đệ, chẳng những lắng nghe, đi theo, mà còn phải hy sinh và từ bỏ nữa. “Kẻ nào yêu mến cha mẹ hơn Thầy, thì chẳng xứng đáng với Thầy, và kẻ nào yêu mến con trai, con gái hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Kẻ nào không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10, 37).

Nghe lời tuyên bố của Chúa Giêsu ở trên, mỗi người chúng ta nói gì và trả lời ra làm sao? Tiêu chuẩn để làm môn đệ Chúa Giêsu, với đòi hỏi thật gắt gao. Ai muốn theo Chúa, phải yêu Chúa hơn cha mẹ, con cái.. Có người đặt câu hỏi: Phải chăng, Điều răn thảo cha kính mẹ, yêu thương người thân cận bị đảo lộn rồi hay sao? Nghĩa là để đi theo Chúa Giêsu, người ta phải dành hết tình yêu đối với Chúa, người theo phải phân định và lựa chọn giữa Thiên Chúa và loài người, Thiên Chúa phải là nhất. Yêu cha mẹ và đồng loại, nhưng yêu Thiên Chúa hơn, vì Ngài là Đấng dựng nên cả cha mẹ chúng ta, nên Chúa Giêsu yêu cầu con người dành cho Ngài một vị trí đặc biệt và cao nhất.

Tuy nhiên, dường như trở ngại lớn nhất không phải là người thân cận hoặc cha mẹ anh chị em, của cải … mà là cái tôi. Cái tôi cũng phải nhường bước cho dây liên kết với Chúa Giêsu, nên Ngài thêm: “Kẻ nào không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó” (Mt 10, 38-39).

Thì ra con đường của các môn đệ là theo Chúa Giêsu, Ðấng bị đóng đinh. Con đường “chịu mất chính mình”, để tìm lại được chính mình, như Đức nguyên Giáo hoàng Benedictô XVI viết: con đường “chịu mất chính mình”, là điều cần thiết đối với con người, và nếu không có điều này, thì nó không thể tìm lại được chính mình” (Ðức Giêsu thành Nagiarét 2007, 333).

Ngày nay Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta: “Vác thập giá mà theo” (Mt 10, 38). Theo Chúa khi chấp nhận thập giá của mình với lòng yêu mến. Dưới con mắt thế gian, đây là một thất bại. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết như sau: “Một cách nhiệm mầu chính Chúa Kitô chấp nhận... chết trên một thập giá để nhổ tận gốc rễ tội kiêu căng khỏi trái tim con người, và biểu lộ một sự vâng phục toàn vẹn con thảo”t (Es. ap. Gaudete in Domino 9 maggio 1975, AAS 67 (1975) 300-301). Khi tự nguyện chấp nhận cái chết, Chúa Giêsu mang lấy thập giá của tất cả mọi người và trở thành suối nguồn ơn thánh cứu độ cho toàn dân. Thánh Cirillo thành Giêrusalem giải thích rằng: "Thập giá chiến thắng đã soi sáng những ai bị mù lòa vì ngu muội, đã giải thoát người bị tội lỗi giam cầm, đã đem lại ơn cứu độ cho toàn nhận loại" (Catechisis Illuminandorum XIII,1; de Christo crucifixo et sepulto: PG 33, 772 B).

Người ta hỏi: Chúa Giêsu có thích khổ đau và thập giá không? Không, Chúa Giêsu đã không đi tìm thập giá và đau khổ, y như thể Ngài thích. Nhưng Ngài vác trên mình thập giá và sự đau khổ, đến mất mạng, khi phải đáp ứng điều này hầu giữ được lòng trung thành với Thiên Chúa. Ai muốn đi theo Chúa Giêsu, phải đặt sự trung thành với thánh ý Thiên Chúa trên tất cả mọi sự. Vác thập giá mình là từ bỏ ý mình, vâng theo ý Chúa. Ý Chúa muốn là hy sinh và từ bỏ để sống trọn vẹn cho Chúa và cho tha nhân. Cơ bản, vác thập giá mình mà theo Đức Giêsu là liều thuốc chữa chúng ta khỏi căn bệnh ghê sợ là “sự trì trệ”, ù lì, tê liệt và khép kín lòng mình.

Không phải ngẫu nhiên Chúa Giêsu nói đến “Thập Giá”. Vác thập giá bước theo Chúa Giêsu không phải là vác đi với những bước nhẹ nhàng. Vác lấy thập giá mà theo Chúa Giêsu có nghĩa là sẵn sàng chấp nhận bất cứ hy sinh nào vì tình yêu đối với Chúa. Nhưng chúng ta không vác thập giá một mình, vì có Chúa cùng đi, Ngài đi trước để chúng ta tiếp bước theo sau, Ngài đi mau để chúng ta được lúi kéo dắt dùi, Ngài nâng đỡ chúng ta bằng sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa.

Quyết định theo Chúa Giêsu, là gạt bỏ tất cả, hướng về Chúa là sự giầu có đích thực của chúng ta, không gì hơn Ngài, không đặt cái gì trước Ngài, toàn bộ phải qui hướng về Ngài. Ngài cũng khẩn khoản mời gọi chúng ta dùng mọi cách để đi đến tận cùng là trở nên những môn đệ Đức Giêsu. Theo Chúa Kitô, chúng ta không mất gì hết, chúng ta được tất cả. Như Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI nhấn mạnh trong bài giảng khai mào sứ vụ Giám mục Rôma: “Ai chấp nhận cho Chúa Kitô bước vào trong cuộc đời họ, thì người đó không mất đi điều gì cả, tuyệt đối không mất điều gì làm cho cuộc đời được tự do, tươi đẹp và cao cả. Không! Chỉ trong tình bạn với Chúa Kitô này mà các cửa sự sống được mở rộng ra. Chỉ trong tình bạn với Chúa này mà những khả năng to lớn của cuộc sống con người được thể hiện đích thực. Chỉ trong tình bạn với Chúa này mà chúng ta cảm nghiệm được điều gì là tươi đẹp và điều gì là tự do”. Với sức mạnh cao cả và với niềm xác tín lớn lao, dựa trên những năm dài kinh nghiệm cá nhân về cuộc sống, Đức Giáo hoàng nói với chúng con rằng: “Anh em đừng sợ Chúa Kitô. Chúa không đến lấy mất đi điều gì cả, nhưng ban cho đủ mọi sự. Ai hiến thân cho Chúa, thì được nhận gấp trăm. Phải, hãy mở ra, hãy mở rộng mọi Cửa cho Chúa Kitô, và chúng con sẽ gặp được sự sống thật” (Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, 24/4/ 2005).

Lạy Chúa, trong niềm tin, chúng con yêu mến Chúa trên hết mọi sự, xin đến giúp chúng con để chúng con thấy rằng trên đường đi, có chúa là sức mạnh để chúng con tiến bước theo Chúa cho đến trọn đời. Amen.

 

18.Đón tiếp tha nhân như đón tiếp chính Chúa—Lm JB. Lê Ngọc Dũng

Trong Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu dạy “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10,37); “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy” (Mt 10,40)...

Nếu nhìn Thầy Giêsu như bao vị thầy, giáo sư hay tôn sư khác thì lời dạy của Ngài quả là khó nghe, quá đáng. Một lương dân mà nghe như vậy thì lắc đầu ngao ngán bỏ đi vì không thể chấp nhận một người đòi mình yêu người đó hơn cả cha mẹ. Một cách tương tự, một người vẫn khăng khăng không cho con cái theo đạo vì sợ con cái bỏ ông bỏ bà.

Nhưng nếu nhìn thấy Đức Giêsu là Con Thiên Chúa làm người thì Lời Chúa hôm nay vang vọng lại lệnh truyền của Chúa cho dân Israel và được Chúa Giêsu nhắc lại. Khi ấy, có người trong nhóm luật sĩ hỏi Chúa Giêsu: “Trong các giới răn điều nào trọng nhất?” Chúa Giêsu đáp: “Giới răn trọng nhất chính là: Hỡi Israel, hãy nghe đây: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi. Còn đây là giới răn thứ hai: Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó” (Mc 12,29-31).

“Hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi”, dĩ nhiên có nghĩa là yêu hơn cả cha mẹ. Vậy, Đức Giêsu là Thiên Chúa thì Ngài đương nhiên đòi hỏi chúng ta yêu mến Ngài hết lòng hết sức, yêu mến hơn cả cha mẹ.

Tuy nhiên, cái hay cái tuyệt vời, trong giáo huấn của bài Tin Mừng hôm nay đó là một Thiên Chúa làm người, có thân xác linh hồn như chúng ta, lại muốn đồng hóa với những môn đệ Ngài, và cũng muốn đồng hóa mình với những người bé mọn. Đón tiếp các môn đệ của Ngài cũng là đón tiếp chính Ngài; đón tiếp những kẻ bé mọn cũng là đón tiếp Ngài. Và khi đón tiếp Ngài như vậy cũng có nghĩa là đón tiếp chính Đấng đã sai Ngài, tức là đón tiếp Thiên Chúa Cha. Cái hay, cái tuyệt vời ở chỗ Yêu Chúa lại được thực hiện qua yêu tha nhân.

Trong thực tế, thực hiện được giáo huấn này của Chúa Giêsu, tuy vậy, cũng không dễ. Có thể dễ khi ta đón tiếp một Giám mục, một linh mục, một tu sĩ, nhưng không dễ gì đón tiếp những kẻ bé mọn, không dễ gì đón tiếp những kẻ khác màu da sắc tộc, không dễ gì đón tiếp kẻ bất đồng ý kiến, kẻ tội lỗi...

Một ngày Chúa Nhật ở Pari bên Pháp, một cộng đoàn các sơ thường xuyên có một linh mục già đến dâng lễ vào lúc 4 giờ chiều. Vào ngày đó vị linh mục vì đau yếu nên không thể đến dâng lễ được, vì thế ngài nhờ một linh mục người Nigeria da đen, là một người bạn tình cờ đến thăm ngài, đến cộng đoàn dâng lễ thay ngài. Lúc 4 giờ kém 5 vị linh mục người Nigeria đến cổng tu viện và bấm chuông.

Theo thói quen ở Pari vào thời ấy, ngài mặc thường phục chứ không mặc áo giáo sĩ. Chị nữ tu giữ cổng nhanh nhẹn mở cổng vì nghĩ rằng cha đến làm lễ. Nhưng khi thấy một người Phi Châu, da đen, sơ không kịp để cho người này nói được câu nào, mà sơ vội nói như xua đuổi  ngay: “Xin lỗi tôi không có gì để giúp ông. Chúng tôi sắp dâng lễ ngay bây giờ. Khi khác ông hãy tới.” “Cám ơn sơ”, vị linh mục Nigeria nói và quay lưng đi.

Vài phút sau đó chuông điện thoại reng ở nhà vị linh mục già. Đó là điện thoại các sơ gọi. Các sơ nói rằng họ đang đợi cha đến để làm lễ nhưng chưa thấy tới, xin cho biết lúc nào cha đến. Và họ được vị linh mục già trả lời rằng: “Ngài đã đến, nhưng các sơ đã nói với ngài rằng hãy đi và ngày khác hãy đến”.

Giống như vị nữ tu, tuy vẫn ý thức  rằng cần phải sống yêu thương, cần phải đón nhận tha nhân, không được kỳ thị… nhưng chúng ta cứ vẫn chưa làm được.

Chúng ta vẫn chưa làm được vì sao?

Đó là bởi vì con người chúng ta vẫn thường thấy mình là đúng là tốt và thấy người khác là sai, là dở, là vô lý, là vô đạo đức... Và vì thế mới cảm thấy bực mình, mới giận, mới phê bình chỉ trích. Ngoài ra, chúng ta còn thấy người khác làm ta bị hại, bị mất mát…

Ví dụ một người mẹ chồng chỉ thấy nàng dâu lười biếng chỉ lo son phấn; một người vợ chỉ thấy chồng là người vô trách nhiệm; một người chỉ thấy chị hàng xóm tham lam hà tiện… Nếu chỉ thấy như vậy, thì làm sao tâm hồn mình thư thái bình an được, mà ngược lại thấy mình đang chịu đựng một gánh nặng, chịu một bức xúc cho đến một ngày nó bùng ra, rồi cải vả, rồi phê bình chỉ trích, cải vả, oán ghét lẫn nhau.

Chúng ta cần nhớ lại Lời Chúa dạy: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy”, “và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã mà thôi..., thì người đó không mất phần thưởng đâu.”

Đúng hơn, Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta một cái nhìn đổi mới về tha nhân. Với cái nhìn này, thì người khác, không chỉ là một người cho tôi những điều lợi này hay mang đến cho tôi điều hại kia; người khác không chỉ là dễ yêu hay dễ ghét theo xét đoán bình thường nữa; người khác không chỉ là đúng đắn hay vô lý nữa; là đạo đức hay tội lỗi nữa…, mà người khác chính là Đức Giêsu đang hiện diện. Khi đón tiếp tha nhân thì cũng là đón tiếp chính Chúa. Và do đó cái nhìn về tha nhân là cái nhìn kính trọng và yêu mến. Họ như là một hồng ân Chúa ban cho ta. Ta yêu mến họ cũng có nghĩa là ta yêu mến Thiên Chúa.

home Mục lục Lưu trữ