Hình thành - Phát triển
Sinh hoạt giáo xứ
Tìm hiểu giáo lý
Xã hội
Đang online: 50
Tổng truy cập: 2117358
BÁT NƯỚC LÃ
BÁT NƯỚC LÃ
Ts. Trần Quang Huy Khanh
Nếu hôm nay có một linh mục, giám mục, hồng y, hay giáo hoàng đến thăm gia đình bạn trong tư cách một người thân, hoặc người bạn, thì tôi sẽ định cho những vị ấy uống gì? Rượu mạnh, rượu chát, trà quí, cà phê hảo hạng, nước ngọt, hoặc nước lọc. Tôi nghĩ là tất cả. Tất cả những gì là quí giá, đắt tiền, ngon, lành, và bổ. Lý do đơn giản, vì không những họ là một người bạn, người thân, mà còn là người bạn, người thân có địa vị cao cả trong giáo hội. Một cách tương tự, nếu một người bạn thân của gia đình tôi là bộ trưởng, tổng trưởng, thủ tướng, tổng thống, thì cách thức đón tiếp cũng mang một hình thức trang trọng như vậy.
Ngược lại, nếu cũng là một người bạn, mà là người tầm thường. nghèo khổ, và thường ngày vẫn quen nhau thì sao? Thì thế nào cũng xong, nước lã đun sôi, hoặc nước trà bình thường thôi. Ở đây, thì lý do đơn giản là, chỗ quen biết, và bạn bè bình dân lâu năm.
Cũng là một người bạn, cũng là một hình thức thăm viếng, nhưng có hai lối cư xử, đón tiếp, mà sự cách biệt ấy không gì khác, chỉ là vì cái địa vị của một người. Chính vì nhìn nhau bằng cặp mất “địa vị” như vậy, cho nên đức tin của tôi không trưởng thành, và không phát triển. Và cũng vì lối nhìn ấy, mà Chúa Giêsu cũng bị tôi đối xử một cách bất công, nếu không muốn nói là coi thường, và rẻ rúng. Vì có bao giờ “chúng tôi có bao giờ thấy Chúa khát mà cho uống đâu” (Mt 25:37). Nhưng rồi Chúa Giêsu đã trả lời cho những kẻ hỏi ngài, người lành cũng như kẻ dữ: “Khi các ngươi làm việc ấy cho một kẻ bé nhỏ trong anh em ta đây, là các ngươi đã làm cho chính ta” (Mt 25:40).
Những anh em bé nhỏ của Chúa. Thật khó mà tưởng tượng được, một người nghèo đói, tàng tật, vất vưởng đầu đường xó chợ kia lại là chính Chúa. Và cũng chính vì Chúa như thế, nên ít người đã nhận ra ngài. Vì chỉ có ngài mới có thể nói với tôi: “Kẻ nào cho một trong những kẻ bé mọn này uống chỉ một bát nước lã mà thôi với danh nghĩa là môn đệ, thì qủa thật, thầy nói với các con, người ấy không mất phần thưởng đâu” (Mt 10:42).
Thì ra thế, bát nước cho một người bé mọn vì Chúa sẽ chẳng mất phần thưởng. Và kẻ bé mọn thì chung quanh tôi có đầy: Những người tàng tật tinh thần và thể xác. Những người nghèo đói tình thương và cơm bánh. Những người bị bõ rơi và quên lãng. Những người bị hà hiếp và chèn ép. Những trẻ thơ không cha mẹ, không người thân thuộc. Những cô nhi và quả phụ. Những nạn nhân chiến tranh và lòng thù ghét của đồng loại. Tóm lại, những người mà Chúa Giêsu bảo là bạn hữu của Chúa thì không hiếm. Nhưng cái khó là làm sao nhận ra họ, nhận ra họ là chứng nhân, là kẻ được Chúa sai đến với mình. Vì bao lâu không nhìn ra cái ấn tín chứng nhân nơi họ, không nhìn ra ý nghĩa của lần gặp gỡ với họ, tôi sẽ không nhận ra họ, và cũng không bao giờ chấp nhận cái sứ vụ của người sai họ đến với mình.
Không nhận ra họ, và không nhận ra sứ vụ của họ, là chối bỏ người sai họ. Như việc người ta chối bỏ môn đệ của Chúa. Trường hợp ấy, làm gì có nước mà cho uống, vì đã không coi họ như những người thân thiện, những đại diện của đấng đã sai họ, làm gì tôi có thể vui lòng và tiếp đón họ.
Thật vậy, ai cũng biết rằng tự nó, bát nước lã không đem lại công trạng để được tưởng thưởng. Nó cũng chẳng có lý do được phần thưởng đời đời như thánh Mátthêu đã ghi trong bối cảnh của ngày chung thẩm, trong đó một trong những lý do người lành được thưởng vì đã cho một người bé mọn một bát nước lã. Cũng như một trong những lý do kẻ dữ phải đọa đầy, vì đã từ chối không cho anh chị em nhỏ bé mình một ly nước khi họ khát (xem Mt 25:46).
Nhưng lý do để người lãnh thưởng và kẻ bị chúc dữ vì những bát nước là vì đã cho “những kẻ bé nhỏ nhất trong anh em ta” và “vì họ là môn đệ ta”. Thái độ đón tiếp ấy, cái nhìn tâm linh ấy là những gì Chúa Giêsu muốn được nhìn thấy trong sinh hoạt của tôi, và trong cách cư xử, đối đãi hằng ngày với nhau của tôi. Đây là một cái nhìn xuyên thấu tâm hồn, phát xuất từ đức tin và đức mến hành động. Điều mà có thể làm cho chúng ta khám phá ra Chúa Giêsu trong những anh chị em chung quanh mình. Không phải vì cái vỏ bên ngoài, hay địa vị xã hội, hoặc giáo hội, mà là người đó là hình ảnh, là hiện thân, là sứ giả của Chúa Giêsu. Cũng với lối nhìn ấy, chúng mới có thể tiếp đón mọi người đến với tôi thường ngày, và nhìn ra họ là “sứ giả”, là môn đệ được sai tới từ Thiên Chúa đến với tôi trong bối cảnh này, trong tình huống ấy, và trong thời điểm ấy. Nhận ra họ, và qua họ nhìn thấy Chúa, lúc ấy, tôi sẽ đón tiếp họ và qua họ, đón tiếp Chúa.
Như vậy, khi Chúa Giêsu lấy đơn vị một bát nước, và một người anh em hèn mọn nhất, để đo lường và cân nhắc thái độ đón tiếp của tôi dành cho nhau, cũng như tình cảm mà tôi dành cho anh chị em mình là như nhắn gửi tôi rằng, trong hoàn cảnh nào, và trong bất cứ ai, thì Chúa Giêsu vẫn có mặt, và đến với tôi. Ngài đến không chỉ để ban thưởng, mà còn để xin tôi, mong đón nhận nơi tôi một lời an ủi, một nụ cười thông cảm, và một ánh mắt yêu thương. Như một người đang đi đường nhận được bát nước giải khát vậy.
Chúa Giêsu cần an ủi không? Và Chúa Giêsu cần được khuyến khích không? Có chứ. Chúa Giêsu đã chẳng nói với các Tông Đồ trong vườn Cây Dầu: “Các con hãy ở đây và thức với thầy”. Và người nói với người thiếu phụ Samaritanô: “Cho tôi uống với” (Gioan 4:7). Đây là một mời mời gọi, lời mở ra từ cõi lòng Thiên Chúa, Ngài muốn trao ban cho nhân loại cái cơ hội để tiếp cận và gần gữi Ngài. Nước thì làm gì mà Ngài không có. Ngài muốn ăn gì, uống gì mà không có. Và điều này đã phản ảnh lời mà Ngài đã nói với thiếu phụ Samaritanô bên giếng nước Giacob: “Nếu chị biết ơn Thiên Chúa và người đang nói với chị là ai, hẳn chị sẽ xin người ban nước hằng sống cho” (Gioan 4:10).
Chúa xin mà là Chúa cho. Ngài chỉ muốn tạo cơ hội cho con người nhận ra Ngài, tiếp nhận Ngài, và đón Ngài vào nhà mình. Bằng mọi cách, Ngài muốn cho con người hiểu Ngài yêu thương con người, và chỉ cần một đáp trả rất nhỏ mọn thôi, như cho người bạn mình một bát nước vì Ngài, Ngài cũng mủi lòng, cũng cảm động, và cũng ghi ơn. Tiền bạc thì tôi không có. Hạt xoàn thì tôi không có. Vàng bạc thì tôi không có. Nhưng chẳng lẽ tôi không có lấy một bát nước cho người nghèo quang mình. Và chỉ cần bằng một lòng yêu mến, kính trọng, và thái độ khiêm nhường là tôi thấy Chúa ở ngay bên mình: “Kẻ nào cho một trong những kẻ bé mọn này uống chỉ một bát nước lã mà thôi với danh nghĩa là môn đệ, thì qủa thật, thầy nói với các con, người ấy không mất phần thưởng đâu” (Mt 25:42).
34.Đón tiếp Tôi--Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến
Đoạn 10,37-42 nằm trong văn mạch của diễn từ Chúa Giêsu dành cho các môn đệ (10,5-42). Trong diễn từ lớn nầy Ngài chỉ dẫn cho họ phải làm gì khi đi thi hành sứ vụ (10,5-15), chuẩn bị cho họ về sự bắt bớ (10,16-25), đòi hỏi họ không sợ hãi mà loan báo tin mừng (10,26-36) và đặt Ngài trên mọi tương quan thân thiết nhất (10,37-39), và sau cùng loan báo cho họ phần thưởng dành cho họ (10,40-42).
Yêu Mến Chúa Giêsu Trên Hết (10,37-39)
Đoạn nầy gồm ba câu bàn về ba tương quan khác nhau của môn đệ: với gia đình (c. 37), với thập giá (c. 38) và với mạng sống mình (c. 39). Cả ba câu đều qui chiếu về Chúa Giêsu và Ngài đòi hỏi người môn đệ phải chọn Ngài trên tất cả: “yêu mến hơn Tôi”, “không xứng đáng với Tôi” (c. 37), “… đi theo sau Tôi”, “không xứng đáng với Tôi” (c. 38), “vì Tôi” (c. 39). Đoạn nầy đóng khung bởi “Tôi” trong “hơn Tôi” (c. 37) và “vì Tôi” (c. 39), chỉ Chúa Giêsu.
Yêu mến Chúa Giêsu hơn người thân trong gia đình
Câu 37 gồm hai phần song song. Một bên là cha mẹ và bên kia là con cái. Đây là các tương quan gia đình căn bản và thân thiết nhất. Cụm từ “hơn Tôi”, “không xứng đáng với Tôi” và động từ phileō, “yêu thương” được lập lại ở mỗi bên. Chúa Giêsu, “Tôi”, đặt mình so sánh với cha mẹ, và con cái của người môn đệ. Ngài đòi hỏi Ngài được yêu thương hơn những người nầy. Giới từ huper, “trên”, chỉ sự cao trọng hơn một ai đó. Chúa Giêsu là “Thầy” của các môn đệ, nên Ngài phải được yêu thương hơn (x. 10,24). Trong các câu trước, Chúa Giêsu đã đòi hỏi các môn đệ không xấu hổ mà làm chứng cho Ngài trước mặt người đời (10,32tt), thì đây Ngài cũng đòi hỏi các môn đệ yêu mến Ngài hơn tất cả, ngay cả đối với những người thân thiết nhất trong gia đình. Khi có sự “chống đối” trong gia đình vì Chúa Giêsu, phải chọn Ngài trên hết và trước hết (x. 10,35). Azios, “xứng đáng”, chỉ tính cách phù hợp, tương xứng. Chỉ khi nào người môn đệ yêu mến Chúa Giêsu hơn những người khác, họ mới xứng đáng làm môn đệ của Ngài, và tình yêu ấy mới xứng với Ngài (x. 22:8).
Vác thập giá theo Chúa
Câu 38 cũng dùng cụm từ “không xứng đáng với Tôi” như câu trên khi Chúa Giêsu nói về việc vác thập giá và đi theo sau Ngài. Động từ lambanō, “nhận” ở đây có đối tượng là một điều gì đó hay một người nào đó đến từ Thiên Chúa: lãnh nhận nhưng không (10,8), thập giá (10,38), tiên tri, người công chính (10,41). Điều đầu tiên Chúa Giêsu đòi hỏi là biết lãnh nhận thập giá từ Thiên Chúa (x. 16,24). Động từ akoloutheō “đi theo”, đôi khi thêm giới từ opisō, “sau”, chỉ việc đi theo để làm môn đệ của Chúa Giêsu (4,19. 20tt; 8,22; 9,9). Hai hành vi “nhận lấy thập giá” và “đi theo” Chúa Giêsu làm nên sự xứng đáng của người môn đệ của Chúa Giêsu (x. 27,32).
Từ bỏ mạng sống vì Chúa
Câu 39 có cấu trúc đối đảo: a- Ai tìm mạng sống mình, b- Mất mạng sống mình, b’ Ai liều mất mạng sống mình – vì Tôi –, a’ Tìm được mạng sống mình. Yếu tố quan trọng nhất trong cấu trúc nầy là heneken emou, “vì Tôi”, nằm ở trung tâm. Nó chỉ động lực của việc liều mất mạng sống. “Vì Chúa Giêsu” là động lực đúng đắn nhất để liều mất mạng sống. Việc liều mất mạng sống mà Chúa Giêsu nói đây nằm trong bối cảnh của sự bắt bớ vì Chúa (5,11; 10,18). Vậy nếu vì Chúa mà mất mạng sống, thì cũng “nhờ Chúa” mà tìm lại được mạng sống (x. 16,25).
Phần Thưởng Dành Cho Người Đón Tiếp (10,40-42)
Sang phần nầy, Matthêô dùng đại danh từ ngôi thứ hai số nhiều “các con”, humas (c. 40) / humin (c. 42); từ đóng khung phần nầy. Đối tượng giáo huấn của Chúa Giêsu là dân chúng. Đoạn nầy gồm ba câu chia làm hai phần, và mỗi phần gồm ba yếu tố: – Sự đón tiếp (c. 40); – Phần thưởng (cc. 41-42).
Sự đón tiếp (c. 40)
Ba yếu tố “các con” – “Tôi” – “Đấng đã sai Tôi” gắn liền mật thiết với nhau bởi động từ “đón tiếp”. Sự liên kết nầy có được bởi chỉ có một việc sai đi. Môn đệ là những người được Chúa Giêsu sai đi (x. 10,16; 11,10; 15,24; 21,1tt), và Chúa Giêsu bởi Chúa Cha, “Đấng đã sai Tôi” (x. 15,24; 21,37). Như thế sứ vụ của người môn đệ bắt nguồn từ Chúa Cha do việc họ tham dự vào sứ vụ của Chúa Giêsu; do đó họ được đón tiếp như chính Chúa Giêsu và Chúa Cha. Như thế có sự đồng hoá giữa Chúa Giêsu và các môn đệ bởi sự tham dự của họ.
Phần thưởng (cc. 41-42)
Hai câu nầy gồm ba phần: tiên tri, người công chính và môn đệ. Động từ “đón tiếp” còn được dùng ở đây; như thế nó liên kết câu nầy với câu trên. Xét theo văn mạch khi Chúa Giêsu nói đến việc đón tiếp các “tiên tri”, “người công chính”, “môn đệ”, Ngài ám chỉ các môn đệ của Ngài.
Tước hiệu “tiên tri” (14,5; 21,11; 26,46) và “người công chính” (27,19) trước tiên dành cho Chúa Giêsu. Ngài chọn lựa và sai các môn đệ đi làm sứ vụ với tư cách hay danh nghĩa của Ngài, nên họ cũng được gọi là “tiên tri”, người công chính” hay “môn đệ” của Ngài. Cụm từ “vì danh nghĩa”, eis onoma, được lập lại ba lần, có nghĩa là người nầy làm tiên tri vì được Chúa tuyển chọn và sai đi, và họ được đón tiếp vì người ta nhận biết họ là tiên tri của Chúa. Như thế một cách nào đó, Chúa Giêsu tiếp tục đồng hoá chính Ngài với các môn đệ. Việc nầy chúng ta sẽ thấy rõ hơn khi Chúa Giêsu đã liên kết các môn đệ của Ngài trong sự bắt bớ của họ với “các tiên tri đến trước họ” (5,12). Trong câu 13,17, Chúa Giêsu xem các môn đệ của Ngài như là “các tiên tri và người công chính” vì họ được thấy và nghe những điều mà các tiên tri và người công chính trước đây đã ước ao không được. Sau nầy Ngài cũng nói đến việc sai “các tiên tri” của Ngài đến giữa người Do thái (23,34). Như thế, các môn đệ của Chúa Giêsu được xem như “các tiên tri” và “người công chính” của thời Ngài.
Sau cùng nói đến phần thưởng dành cho người đón tiếp các môn đệ của Chúa Giêsu. Đấng ban phần thưởng chính là Thiên Chúa (x. 6, 4.6.18). Phần thưởng dành cho các tiên tri như thế nào, thì phần thưởng cho người đón tiếp họ cũng được như vậy. Các tiên tri chịu bắt bớ sẽ được phần thưởng lớn lao trên trời (5,12), và người công chính được vào hưởng “sự sống đời đời” (25,46). Vậy lần nữa nhờ việc liên kết với Chúa Giêsu mà các môn đệ nhận được danh nghĩa tiên tri và người công chính, và những ai tiếp đó họ, thì được Chúa Cha ân thưởng.
Liên kết với Chúa Giêsu cũng là liên kết với Chúa Cha và sự sống đời đời. Với các môn đệ, sự liên kết nầy còn cần thiết hơn nữa bởi bản chất và những đòi hỏi của sứ vụ, tương quan bản thân và cả phần thưởng dành cho họ. Liên kết với Chúa Giêsu quyết định sự sống đời đời với Thiên Chúa như là phần thưởng.
35.Con đón Chúa, Chúa đón con--Lm. Minh Anh
“Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy;
kẻ nào đón tiếp Thầy, là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”.
Kính thưa Anh Chị em,
Một trong những chủ đề của phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay là đón tiếp, con người đón tiếp Thiên Chúa, Thiên Chúa tiếp đón con người; và ở đâu có đón tiếp, ở đó có niềm vui; ở đâu có niềm vui, ở đó có an bình.
Bài đọc thứ nhất, sách Các Vua kể chuyện thời Cựu Ước, hai ông bà của một gia đình sang trọng đón tiếp thầy trò ngôn sứ Êlisê và này, người của Chúa báo tin vui cho họ, “Năm tới cũng vào thời kỳ này, bà sẽ bồng bế một bé trai”; Chúa Giêsu trong Tin Mừng Matthêu thời Tân Ước thì nói rõ hơn, đối tượng được đón tiếp chính là Thiên Chúa, “Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy; kẻ nào đón tiếp Thầy, là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”.
Lần dỡ các trang Thánh Kinh, chúng ta chứng kiến bao cuộc đón tiếp đem lại niềm vui và bình an. Từ cuộc đón tiếp những người khách lạ giữa sa mạc ở cụm sồi Mamrê của Abraham, hoặc cuộc đón tiếp sứ thần của Manoac mẹ Samson thời các thẩm phán cho đến cuộc đón tiếp Êlisê thời các vua… chúng ta thấy niềm vui và bình an là một điều gì đó luôn luôn xảy đến cho các gia đình. Và này, một cuộc tiếp đón khác, giản dị nhất nhưng cũng trọng đại nhất vốn mang đến một niềm vui lớn nhất không chỉ cho một gia đình son sẻ nhưng cho cả đại gia đình nhân loại phong nhiêu là cuộc đón tiếp sứ thần Gabriel của một thiếu nữ Giuđê có tên là Maria; ở đó, cũng một lời hứa tương tự, “Này đây, bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu”. Và Giêsu đó chính là hoàng tử bình an và niềm vui cho con người mọi thời. Đến lượt Ngài, Ngài lại sai các môn đệ mình ra đi loan báo tin mừng bình an đó, rằng, Thiên Chúa là tình yêu; rằng, Người yêu thương con người đến đời đời.
Thế nhưng, một điều chúng ta đừng bao giờ quên, vì Thiên Chúa là tình yêu nên Người là Đấng luôn luôn đi bước trước. Người đón tiếp con người ngay trong ý định yêu thương đời đời của Người, ngay cả trước khi tạo thành nó, ban cho nó muôn vật muôn loài. Thiên Chúa đón tiếp con người cả khi nó hoá nên những tội nhân phản bội Người. Và vì là tình yêu nên tình yêu của Người là một tình yêu đời đời; Người bất lực trong việc để cho mình hết yêu. Vì thế, lòng Thiên Chúa luôn luôn rộng mở để đón tiếp con người đến nỗi đã ban Con Một Giêsu để ai tin vào người con đó thì được sống đời đời.
Chúa Giêsu, bàng bạc trong các trang Tin Mừng, đã đón tiếp bao con người đến với Ngài và họ đã hưởng lấy niềm vui và bình an. Một Nathanael đến với Ngài khi đêm đã chùng xuống; một Matthêu đến với Ngài khi vừa được gọi giữa sổ sách và tiền bạc; những người mù, những người cùi và những ai bệnh hoạn tật nguyền đến với Ngài; sau cùng, cả người trộm lành, cũng kịp được Ngài đón… để tất cả được chữa lành xác hồn và đổi mới.
Mỗi ngày, qua việc cầu nguyện, qua các bí tích, đặc biệt bí tích Thánh Thể, chúng ta đón tiếp Thiên Chúa, đón tiếp Chúa Giêsu; thế nhưng, sự thật là, chính Thiên Chúa, chính Chúa Giêsu đón tiếp chúng ta. Chúa Giêsu đón tiếp chúng ta qua bí tích rửa tội để chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa; đón tiếp chúng ta qua bí tích hoà giải để tha thứ và chữa lành tâm can mỗi người; đón tiếp chúng ta qua bí tích Thánh Thể để chúng ta được nuôi sống và thông phần sự sống thần linh của Thiên Chúa… và đến giờ sau hết, hạnh phúc biết bao, khi chúng ta lâm chung lìa đời, cũng chính Thiên Chúa đang dang rộng tay đón lấy chúng ta như những đứa con được đón chờ.
Như vậy, mỗi ngày khi chúng ta đón tiếp Thiên Chúa thì cũng chính lúc ấy, Người đón tiếp chúng ta. Cụ thể hơn nữa, khi chúng ta đón tiếp anh chị em mình, nhất là những người nghèo khổ là chúng ta đón tiếp chính Chúa Giêsu.
Một bà mẹ quê hay thương người, trong nhà thường có những người mất trí lui tới, ăn uống; họ được bà sai làm những việc lặt vặt. Thỉnh thoảng gặp giờ cơm, bà cũng buộc họ ngồi vào bàn ăn với con cái. Người chị cả trong nhà rất khó chịu, thường hay phàn nàn vì họ luôn luôn có mùi hôi. Nhưng bà mẹ lại nói với các con mình, “Chúa Giêsu đó, Chúa Giêsu đó” và thế là không còn đứa nào dám hé môi.
Anh Chị em,
Người nghèo thì luôn luôn vui mừng vì được ai đó viếng thăm hay ít nữa, không bị xua đuổi. Như thế, mỗi khi đón tiếp họ, Chúa Giêsu đang ở trong họ lại nghênh đón chúng ta.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, mỗi ngày con đón Chúa, Chúa đón con cả khi con tồi tệ hôi hám nhất; xin cho con đón được Chúa trong những anh chị em ‘khó đón’ nhất chứ không chỉ trong những người nghèo”, Amen.
Các tin khác
.: GIẢNG CHÚA NHẬT 13 THƯỜNG NIÊN (27/06/2026) .: ĐÓN TIẾP (27/06/2026) .: PHẦN THƯỞNG (27/06/2026) .: ÂN TÌNH (27/06/2026) .: THEO CHÚA (27/06/2026) .: THIÊN CHÚA KHÔNG THUA LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA CON NGƯỜI (27/06/2026) .: NHỮNG GIAN NAN VÀ PHẦN THƯỞNG CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ ĐỨC KITÔ (27/06/2026) .: ÂI ĐÓN TIẾP CÁC CON LÀ ĐÓN TIẾP THẦY (27/06/2026) .: BỎ MÌNH ĐI THEO CHÚA GIÊSU (27/06/2026) .: THIÊN CHÚA LÀ KHỞI NGUYÊN VÀ CÙNG TẬN (27/06/2026) .: SỐNG VÌ CHÚA HAY SỐNG VÌ MÌNH? (27/06/2026) .: LIỀU MẠNG SỐNG (27/06/2026) .: ĐÒI HỎI CỦA TIN MỪNG (27/06/2026) .: NGƯỜI MÔN ĐỆ ĐÍCH THỰC (27/06/2026) .: TỪ BỎ (27/06/2026)
Mục lục Lưu trữ
- Văn Kiện Giáo Hội
- Giáo Hội Công Giáo VN
- Tin Ngắn Giáo Hội
- Tài Liệu Nghiên Cứu
- Tủ Sách Giáo Lý
- Phụng Vụ
- Mục Vụ
- Truyền Giáo
- Suy Niệm Lời Chúa
- Lời Sống
- Gợi Ý Giảng Lễ
- Hạnh Các Thánh
- Sống Đạo Giữa Đời
-
Cầu Nguyện & Suy Niệm
- Cầu Nguyện
- Suy Niệm
- Cầu Nguyện Là Gì?
- Cầu Nguyện Từ Mọi Sự Vật
- Suy Niệm Đời Chúa
- Mỗi Ngày Năm Phút Suy Niệm, (Mùa Vọng -> CNTN) - Năm A
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A - Mùa Chay
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A - Mùa Phục Sinh
- Mỗi Ngày Năm Phút Suy Niệm - Mùa Chay, C
- Năm Phút Suy Niệm Lời Chúa - Tuần Thánh - Phục Sinh, C
- Năm Phút Suy Niệm Lời Chúa Mỗi Tuần Thường Niên C
- Năm Phút Suy Niệm, Năm B (2011-12)
- Năm Phút Suy Niệm, Năm C (2012-13)
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A (2013-14)
- Cầu Nguyện Chung
- Suy Tư Và Thư Giãn
- Thánh Ca Việt Nam
- Phúc Âm Nhật Ký
- Thơ
- Electronic Books (Ebooks)
- Vatican
- Liên HĐGM Á châu
- Đài Phát thanh Chân lý Á châu - Chương trình Việt ngữ
- Giáo phận Bà Rịa
- Giáo phận Ban Mê Thuột
- Giáo phận Bắc Ninh
- Giáo phận Bùi Chu
- Giáo phận Cần Thơ
- Giáo phận Đà Lạt
- Giáo phận Đà Nẵng
- Tổng Giáo phận Hà Nội
- Giáo phận Hải Phòng
- Tổng Giáo phận Huế
- Giáo phận Hưng Hóa
- Giáo phận Kon Tum
- Giáo phận Lạng Sơn
- Giáo phận Long Xuyên
- Giáo phận Mỹ Tho
- Giáo phận Nha Trang
- Giáo phận Phan Thiết
- Giáo phận Phát Diệm
- Giáo phận Phú Cường
- Giáo phận Qui Nhơn
- Giáo phận Thái Bình
- Giáo phận Thanh Hóa
- Tổng Giáo phận TP HCM
- Giáo phận Vinh
- Giáo phận Vĩnh Long
- Giáo phận Xuân Lộc
- Ủy ban BAXH-Caritas Việt Nam
- Ủy ban Công lý và Hòa bình
- Ủy ban Giáo dục Công giáo
- Ủy ban Giáo lý Đức tin
- Ủy ban Kinh Thánh
- Ủy ban Mục vụ Di dân
- Ủy ban Mục vụ Gia đình
- Ủy ban Nghệ Thuật Thánh
- Liên hiệp Bề trên Thượng cấp Việt Nam