Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 45

Tổng truy cập: 1866514

THỜ PHƯỢNG CHÚA TRONG THẦN KHÍ VÀ SỰ THẬT

THỜ PHƯỢNG CHÚA TRONG THẦN KHÍ VÀ SỰ THẬT

(Suy niệm của Lm. JB. Lê Ngọc Dũng)

Bài Tin Mừng cho thấy một điều lạ là Đức Giêsu đi tới gặp một phụ nữ bên bờ giếng để xin nước uống vì mõi mệt, vì khát nước. Sao Ngài lại xin trong khi Ngài đang có? Ngài đang có nước, mà lại nước hằng sống! Nếu Ngài có nước hằng sống, thì cứ lấy ra mà uống đi, cần gì phải xin?

Người ta vẫn nghĩ rằng Chúa Giêsu rất khôn ngoan về khoa sư phạm, Ngài chỉ tìm cách gợi chuyện để rao giảng mà thôi. Và kết quả là rất thành công, khiến cho cả làng ra đón tiếp và tin Ngài.

Hãy xem, Chúa có cho nước hằng sống không? Người phụ nữ đã xin: "Thưa ông, xin cho tôi nước ấy, để tôi khỏi chết khát và khỏi phải đến đây lấy nước". Nhưng Chúa Giêsu lại nói lãng qua chuyện khác: "Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây". Rồi sau đó Chúa Giêsu lại nói đến chuyện thờ Thiên Chúa đích thực là trong Thần khí và Sự Thật.

Tuy nhiên, chuyện lạ lùng đã xảy ra:  người phụ nữ nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế và sau đó cả làng đều tin.

Vậy thì nước hằng sống mà Chúa Giêsu đã ban cho họ chính là Đức Tin. Đó là tin rằng Ngài là Đấng Cứu Thế. Chúa đã cho người phụ nữ và cả làng ơn đức tin, cũng là nước hằng sống mà họ muốn có.

Tin Ngài là Đấng Cứu Thế lại liên hệ sâu xa đến việc thờ phượng Thiên Chúa. Rõ ràng là khi tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng mà Thiên Chúa Cha ban cho chúng ta vì yêu thương, thì lúc đó chúng ta thực hiện sự tôn thờ, kính mến Thiên Chúa. Khi chúng ta tin vào Đức Giêsu, cùng với cả cuộc đời Ngài vâng phục là chết trên thập giá vì tình yêu thương, và chúng ta sống theo gương Ngài, thì chính lúc đó chúng ta tôn thờ Thiên Chúa.

Hôm nay Chúa Giêsu nói, tôn thờ Thiên Chúa đích thực không phải sự tôn thờ trên núi này hay trên núi nọ mà là trong Thần Khí và Sự Thật. Chúng ta vẫn thường nghĩ rằng đơn thuần là thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý, hiểu như là trong tinh thần thì khác với thể xác, trong chân lý thì khác với trong gian dối. Các nhà Kinh Thánh thấy rằng, nó không đơn giản như vậy, vì tác giả Tin Mừng Thánh Gioan viết rất sâu xa.

Đó là sự thờ phượng Thiên Chúa trong Chúa Thánh Thần và Chúa Giêsu Trong Sự Thật cũng là trong Chúa Giêsu. Chúa Giêsu chính là Sự Thật, như có lần Ngài nói: Ta là Đường là Sự Thật và là Sự Sống. Ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời. Cả mầu nhiệm Nhập thể cứu độ cũng là Sự Thật, Sự Thật cứu độ, cần phải tin để được sống đời đời.

Trong Thần Khí hay trong Tinh Thần cũng có nghĩa là trong Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta tin và sống đức tin mạnh mẽ. Chính nhờ Chúa Thánh Thần ban ơn để ta tin vào Sự Thật là Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa. Tin vào Chúa Giêsu, cũng có nghĩa là tin Thiên Chúa Cha ban cho nhân loại chính Con Một Ngài, vì yêu thương thế gian.

Để dễ hiểu, hãy nghĩ đến sự thờ phượng Chúa trong Thánh Lễ. Cử hành Thánh Lễ cũng là cử hành hiến tế của Đức Giêsu lên Thiên Chúa Cha. Đó là sự thờ phượng của Chúa Giêsu. Ngài, nhờ tay linh mục dâng hiến tế, thực hiện trong Chúa Thánh Thần, Đấng Thánh hóa lễ vật. Chúng ta dự lễ, có nghĩa chúng ta được dự phần thờ phượng Thiên Chúa trong Chúa Giêsu, nhờ công nghiệp vô cùng quý giá của Chúa Giêsu, như lời đọc của linh mục chủ tế "chính nhờ Người, với Người và trong Người mà mọi chúc tụng và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời'.

Chính đức tin và sự thờ phượng trong Chúa Giêsu và trong Chúa Thánh Thần đem lại cho ta nước hằng sống, tức là sự sống đời đời.

Tuy nhiên đức tin với kiểu chỉ nói "lạy Chúa", "lạy Chúa" mà không thực hiện Lời Chúa thì cũng không mang lại được sự sống đời đời. Đức tin phải thể hiện bằng việc làm, bằng cuộc sống.

Đức tin của người phụ nữ Samaria ít nhất cũng thấy được là chị đã làm chứng cho Đức Giêsu cho những người Samari khác trong thành. Chị đã thuyết phục họ bỏ qua đi những kỳ thị ghen ghét lẫn nhau để đến với Đức Giêsu và tin Ngài là Đấng Cứu Thế.

Người phụ nữ cũng như dân Samaria thừa biết “người Do Thái không được giao tiếp với người Samaria”. Vậy mà khi nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, họ đã vượt qua “hố sâu ngăn cách” ấy cũng như vượt trên "tự ái dân tộc” để đến gặp Đức Giêsu và xin Ngài ở lại với mình.

Trong thực tế đời sống, không dễ chút nào trong việc vượt qua những rào cản của tự ái của mặc cảm của sự cách biệt để ta đến với người anh em để sống yêu thương vâng phục như Đức Kitô; không dễ chút nào trong việc thoát khỏi xiềng xích trói buộc của tội lỗi mà trở về cùng Chúa.

Chính khi gặp gỡ Đức Kitô, sống trong Đức Kitô, trong Chúa Thánh Thần, thì chúng mới có khả năng dẹp bỏ những rào cản những khó khăn này. Nói một cách khác, trong mọi hoàn cảnh người Kitô hữu phải liên kết với Chúa Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần để sống đức tin, để thờ phượng Thiên Chúa. Điều này cũng có nghĩa là chúng ta đang thờ phượng Chúa cách đích thực, trong Tinh Thần và Chân Lý.

 

53.Nước vọt đến sự sống đời đời

(Giải thích bản văn Tin Mừng của Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến)

Tin mừng của Chúa nhật hôm nay gồm hầu như cả chương 4 (4,5-42). Chương 4 bắt đầu một khung cảnh và chủ đề mới. Chúa Giêsu rời Giuđêa đi về lại Galilêa và Người đi ngang qua Samaria (4,3), nơi đây xảy ra câu chuyện giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ. Khung cảnh gần hơn là bên giếng nước Giacóp. Chủ đề chính: – Chúa Giêsu và người phụ nữ Samaria: Mở đầu cuộc đối thoại (4,1-8); – Nước hằng sống (4,9-15); – Việc phụng thờ đích thật (4,16-26); – Mùa gặt (4,27-38); – Kết quả của việc truyền giáo tại Galilêa và Samaria (4,39-45).

Đoạn 4,9-15 gồm 3 lần trao đổi giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ: 7 và 9; 10-12; 13-15. Phần cuối của câu 9 là ghi chú của thánh sử. Xét về mặt ngữ nghĩa các trao đổi nầy liên hệ với nhau qua chủ đề nước. Cụm từ “đến múc nước” (4,7 và 15 ) đóng khung đoạn nầy.

Xin nước uống (4,7-9)

Chúa Giêsu xin người phụ nữ nước uống, “Cho tôi uống với” (c. 7). Chúa Giêsu khát nước sau hành trình dài. Điều nầy được xác nhận qua việc các môn đệ đi vào thành để mua thức ăn (9,4-8). Người lấy việc khát nước của mình để bắt đầu cuộc trao đổi về nước hằng sống (x. 4,10). Động từ “cho” dùng nhiều lần trong đoạn nầy (cc. 10.12.14 [2x].15). Cuộc trao đổi được đóng khung bởi lời mở đầu “cho tôi uống với” của Chúa Giêsu (c. 10) và kết thúc với lời xin ngược lại từ phía người phụ nữ “cho tôi nước nầy” (c. 15).

Người phụ nữ nầy chỉ hiểu theo nghĩa đen lời xin nước của Chúa Giêsu (c. 9). Lời xin nước của Chúa Giêsu bị bỏ ngõ, vì bà không trả lời trực tiếp lời xin nước của Chúa Giêsu và nói đến sự ngăn cách giữa hai người do thuộc hai miền khác nhau. Bà là người miền Samaria, trong khi Chúa Giêsu là người miền Giuđêa. Thánh sử cho lời giải thích về điều nầy (c. 9; Lc 10,25-37). Thời ấy, người do thái không chỉ tránh gặp người thuộc miền Samaria, mà cả tránh không nói chuyện với phụ nữ nơi công cộng. Phản ứng của các môn đệ khi thấy Chúa Giêsu nói chuyện với người phụ nữ Samaria cho thấy điều nầy (4,27). Ngay cả người phụ nữ cũng thắc mắc là có thể có một cuộc trao đổi như thế giữa bà và Chúa Giêsu hay không. Vào thời xưa giếng nước là thường là nơi gặp gỡ (x. Kn 24,11.15.17; 29,2-12).

Ban nước uống (4,10-12)

Trong lần trao đổi tiếp theo nầy, chủ đề nước chuyển sang khía cạnh khác, tập trung vào Chúa Giêsu là nước hằng sống, ân huệ của Thiên Chúa, và Người cũng là Đấng ban nước ấy cho những ai xin Người  (c. 10). “Ân huệ của Thiên Chúa” (c. 10) nghĩa là ơn do Thiên Chúa ban cho. Ân huệ ấy được đồng hoá với Chúa Giêsu. Mệnh đề điều kiện “Nếu bà biết…” vừa có tính cách điều kiện là phải biết, vừa có tính cách mời gọi. Điều kiện tiên quyết là phải biết Người là ai, và khi cầu xin thì Người sẽ sẵn sàng ban nước hằng sống ấy. Ở đây Chúa Giêsu không dùng cách nói trực tiếp Người là nước hằng sống, dù Người gọi mình là “Tôi là Bánh hằng sống” (6,51). Nước gắn liền với sự sống như bánh vậy (6,35).

Người phụ nữ không hiểu ngôn ngữ của Chúa Giêsu (c. 11); như trường hợp của Nicôđêmô (3,3). Suy nghĩ của bà bị kẹt trong thế giới thể lý và tự nhiên nầy. Bà không hiểu làm sao Chúa Giêsu có thể: – có nước mà không cần đến cái gàu để múc nước, trong khi giếng lại sâu; – lớn hơn tổ phụ Giacóp, người đã truyền lại cho họ giếng nước nầy (Kn 49,22). Pothen, “do đâu” (c. 11) là một trong những từ then chốt của Gioan. Khi đối diện với Chúa Giêsu, nhiều người không hiểu do đâu mà đến những hiểu biết của Chúa Giêsu (1,48); những việc Người làm (2,9). Cũng thế người phụ nữ Samaria nầy không hiểu bởi đâu Người có thể có nước để ban cho (4,11). Trọng tâm của những thắc mắc “pothen” nầy là con người không hiểu nguồn gốc của Người (7,27; 8,14; 9,30; 19,9).

Người phụ nữ Samaria đưa ra một so sánh giữa Chúa Giêsu và tổ phụ Giacóp (c. 12). Câu hỏi của bà “Không lẽ ông cao trọng hơn Giacóp…?” tương tự câu hỏi người do thái đặt cho Chúa Giêsu “Không lẽ ông cao trọng hơn Abraham…?” (8,53). Bà đặt vấn đề là ai cao trọng hơn ai. Giacóp đã để lại giếng nước. Chúa Giêsu có thể hơn thế không? Chắc chắn là Người cao trọng hơn Giacóp, cũng như Người tuyên bố là cao trọng hơn Abraham, vì Người có trước Abraham (8,58). Cũng vậy Người cao trọng hơn Giacóp, vì Người ban “nước không hề khát” (c. 14) chứ không như nước tự nhiên lấy lên từ giếng của Giacóp. Điều nầy sẽ được nói đến trong những câu tiếp theo.

Nuớc uống ban sự sống (4,13-15)

Trong lời trao đổi sau cùng, Chúa Giêsu không trả lời những điều liên quan đến gàu nước, và tổ phụ Giacóp. Người giải thích phẩm tính của nước do Người ban bằng một so sánh giữa “nước nầy”, nghĩa là nước tự nhiên lấy lên từ giếng (c. 13) và “nước do Người ban cho” (c. 14). Uống “nước nầy” sẽ lại khát. Uống nước Người ban sẽ không bao giờ khát nữa. Chúa Giêsu tiếp tục mời gọi đến với Người để giãn khát, “ai khát hãy đến cùng Tôi và uống” (7,37; x. 6,35.51). Chúa Giêsu nói đến “mạch nước” (c. 14b), nhắc nhớ đến giếng nước tự nhiên (4,6). Trong Cựu ước, pēgē hydatos, “mạch nước” ám chỉ Thiên Chúa (x. Tv 36,9; Giêr. 2,13; 17,13), cũng thế trong sách Khải huyền, nước hằng sống phát xuất từ ngai của Thiên Chúa và Con Chiên (Kh 22,1; 7,17). Hallomai, có nghĩa là “phun lên” (mạch nước), và “nhảy lên”. Động từ nầy chỉ được dùng một lần duy nhất ở đây trong Gioan. Trong Công vụ Tông đồ, động từ nầy dùng cho hai người què (3,18; 14,10). Họ nhảy nhót lên sau khi đã được chữa lành. Có thể hiểu là việc làm cho mạch nước phun vọt lên, cũng như việc làm cho người què nhảy nhót được là do Thiên Chúa. Người hành động trong nước hằng sống, cũng như hành động trong việc chữa lành của các tông đồ. Và mục đích của hành động nầy là đưa đến “sự sống đời đời”. Vậy vì nước hằng sống nầy chính là Chúa Giêsu, khi ai lãnh nhận Người, Người sẽ hành động trong họ và đưa người ấy vào sự sống đời đời. Chúa Giêsu chính là sự sống (1,4; 14,6), nên tất cả những gì Người ban đều mang lại sự sống cho người lãnh nhận: nước (4,14), lương thực (6,27), bánh (6,33.35.48.51), thịt và máu của Người (6,53-54).

Thêm một lần nữa người phụ nữ nầy không hiểu lời Chúa Giêsu (c. 15). Bà chỉ nghĩ đến nhu cầu cụ thể hằng ngày “Thưa Thầy, xin cho tôi nước ấy để tôi khỏi phải đến đây múc nữa” (c. 15). Có thể bà nghĩ là Chúa Giêsu có một thứ nước phù phép, và bà xin thứ nước ấy. Cuộc đối thoại chẳng làm cho bà hiểu hơn. Tuy nhiên đó là cơ hội Người nói về nước hằng sống. Trong các phần tiếp theo, Chúa Giêsu sẽ phá vỡ sự vô tri nầy và sẽ làm cho bà nhận biết Người là ai.

Lời xin nước uống của Chúa Giêsu ám chỉ đến sự cứu độ của con người. Người sẽ lập lại lời tương tự trên thánh giá, “Ta khát” (19,28). Người khát khao người phụ nữ nầy được cứu độ; qua bà như biểu tượng, là cả dân miền Samaria và mọi người. Chúng ta khát khao được cứu độ?

 

home Mục lục Lưu trữ