Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 188

Tổng truy cập: 2104976

NHÌN VÀO

NHÌN VÀO

 

Khi Đức Giêsu sai các tông đồ làm chứng cho Người trong thế gian, Người biết họ đặt đời sống họ trong sự nguy hiểm. Người biết rằng vì lẽ đó họ sợ. Người cũng đã biết những sợ hãi của họ và cố gắng nó giảm nhẹ nó, Người nói với họ đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Họ nên sợ Thiên Chúa, Đấng có thể bắt tội một người phải chịu số phận tệ nhất là hình phạt đời đời.

Đó là điều mà người ta gọi là sự sợ hãi lành thánh mà chúng ta phải có đối với Thiên Chúa. Kinh thánh nói “Sợ hãi Thiên Chúa là bắt đầu của sự khôn ngoan”. Điều đó có nghĩa là sợ làm mất lòng Thiên Chúa, sợ mất Thiên Chúa và sợ hình phạt đời đời. Nhưng nỗi sợ hãi này có thể là những sức mạnh thúc đẩy mạnh mẻ. Một đôi khi, sợ hãi có chức năng bảo vệ, cảnh báo sự hiện diện của một mối nguy hiểm. Trong trường hợp này, sợ hãi là một ân sủng.

Nhưng Đức Giêsu không nói với chúng ta rằng chúng ta phải đặt mối liên hệ với Thiên Chúa trên nền tảng của sự sợ hãi. Đúng ra, Người thúc giục chúng ta đặt mối liên hệ ấy trên nền tảng đức tin. Người nói: “Hai con chim sẽ có thể mua với một xu phải không? Thế mà không có một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em… Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quí giá hơn muôn vàn chim sẻ”.

Điều Đức Giêsu làm là cố gắng đưa chúng ta từ nỗi sợ hãi đến đức tin. Sợ hãi sinh ra hoài nghi, tạo ra khoảng cách để tự vệ và được an toàn. Đức tin dẫn đến sự gần gũi thân mật, và ý thức về sự an toàn. Một tôn giáo tốt làm cho người ta hết sợ. Một tôn giáo xấu tăng thêm nỗi sợ hãi trong lòng con người.

Khi Đức Giêsu nói “Không có một con chim sẻ nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em”. Người muốn chúng ta hiểu rằng nhận thức và sự chăm sóc của Thiên Chúa bao trùm tất cả và đi xa đến mức nào. Bất cứ điều gì xảy ra cho một thụ tạo của người, dù là một thụ tạo vô nghĩa nhất, thì Thiên Chúa đều thấy và đối với người, đều quan trọng – vâng, cả trường hợp một con chim sẻ rơi xuống. Sự việc Người không ngăn cản nó rơi xuống, không có nghĩa là Người thờ ơ đối với nó. Thiên Chúa không bao giờ thờ ơ lãnh đạm về số phận của bất kỳ thụ tạo nào.

Vậy nếu Thiên Chúa quan tâm đến những con chim sẻ, chúng ta có thể tin chắc rằng Người quan tâm đến chúng ta là những con cái của Người. Dù chúng ta không có được sự bảo đảm rằng không có điều gì xấu sẽ xảy ra cho chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta tin rằng cả khi phải chết, Thiên Chúa sẽ chăm sóc chúng ta.

Đức tin không phải là một ảo tưởng trấn an rằng mọi sự đều tốt đẹp. Đúng ra, nó có nghĩa là biết rõ đời sống có đầy những sự rủi ro, bất trắc, tuy nhiên vẫn vui mừng trong mọi biến cố – đó là yếu tính của đức tin.

Ngày nay, nhờ có máy Camêra an ninh, chúng ta thường hay bị nhìn, bị theo dõi bằng một con mắt lạnh lùng, vô cảm chỉ nhằm chụp lấy chúng ta khi chúng ta làm điều quấy. Cảm giác có người theo dõi chúng ta không phải là một cảm giác dễ chịu. Nhưng cảm giác có ai đó nhìn chúng ta để chăm sóc là một cảm giác yêu thương. Thiên Chúa không theo dõi chúng ta. Thiên Chúa chăm nom chúng ta. Niềm xác tín Thiên Chúa chăm nom chúng ta đem lại cho chúng ta niềm an ủi, sức mạnh và hy vọng, đặc biệt là trong những lúc khó khăn và nguy hiểm. Sau cùng chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm dịu đi những nỗi sợ hãi sâu xa nhất của chúng ta.

 

58.Đừng sợ

Trong Tin mừng, Đức Giêsu kêu gọi những người làm nhân chứng cho Người. Nhân chứng là những người không sợ thừa nhận mình là môn đệ của Người, sẵn sàng dấn thân vào giữa một thế giới hoài nghi và đôi khi thù địch. Sợ hãi là một điều làm cho các Kitô hữu không dũng cảm và quảng đại làm chứng cho Tin mừng. Ba lần, Đức Giêsu nói với các tông đồ anh em đừng sợ.

May mắn thay, trong Giáo Hội, luôn luôn có những người được ân sủng của Thiên Chúa, có thể vượt qua những nỗi sợ hãi và làm chứng cho Tin mừng trong những hoàn cảnh khó khăn và nguy hiểm.

Oscar Romero là một ví dụ đáng chú ý. Khi ông được phong làm Tổng Giám mục ở San Salvador năm 1977, ông là một người bảo thủ. Nhưng sau đó ít lâu, ông đã thay đổi khi ông thấy những điều đang xảy ra. Mỗi Chúa nhật, ông giảng tại nhà thờ lớn. Bài giảng của ông nảy lửa đến nỗi những công việc trong nước dừng lại khi ông cử hành thánh lễ. Ông đã công khai lên án những tội ác mà các nhân viên trong chính phủ đã gây ra và không ai có thể nói ra.

Ông luôn bị de dọa bị ám sát. Một vài người bạn tốt nhất của ông đã bị giết chết. Còn ông, ông không thể im lặng. Ông cũng không thể trốn tránh hoặc bỏ đi. “Khi thấy có sự nguy hiểm, người mục tử không thể bỏ chạy và để mặc cho bầy chiên chống đỡ. Tôi sẽ ở lại với giáo dân của tôi”, ông nói. Ông bị bắn chết vào tháng ba năm 1980 khi đang dâng thánh lễ. Theo Romero, không cần phải tỏ ra can đảm mà phải hiểu rằng những kẻ thù của ông muốn bắt ông phải sợ, và nếu ông không sợ họ thì họ không có quyền lực nào trên ông cả. Họ có thể giết chết thân xác ông, nhưng họ không thể giết được linh hồn ông.

Còn có câu chuyện của một linh mục, trong suốt thời kỳ diệt chủng ở Ruănđa (1994) đã cho người Tutsis ẩn náu trong nhà ông. Khi một bọn phiến loạn đến trước cửa nhà ông và ra lệnh ông đuổi họ đi, ông từ chối làm điều đó, chúng bắn ông và bắt những người Tutsis đi. Cho dù chúng ta không thể ao ước tính cách anh hùng ở mức độ cao như thế thì những người như thế là một nguồn cảm hứng cho chúng ta. Lời của Đức Kitô chắc chắn áp dụng cho họ: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy”.

Mỗi nơi đều cần chứng từ của người Kitô hữu. Đức Kitô nói: “Làm chứng cho Thầy trước mặt thiên hạ”. Chính trong thế giới chúng ta phải hoạt động tích cực và có ảnh hưởng. Làm những môn đệ bí mật của Đức Kitô không đủ. Chúng ta phải đem lại cho dân chúng chứng từ về đức tin Kitô giáo.

Trong một vài quốc gia làm chứng cho Đức Kitô là đặt đời sống mình vào nơi nguy hiểm. Nhưng trong phần lớn các quốc gia, sự việc không như thế. Nhưng những nước sau cũng cần phải có những nhân chính, bởi vì đức tin và những giá trị Kitô đã bị xói mòn. Trong những nước này, việc làm chứng có khi còn khó khăn hơn. Điều mà chúng ta có lẽ phải đối diện, không phải là sự thù nghịch hoặc chống đối, nhưng là một điều gì còn khó khăn hơn: sự lãnh đạm chết chóc. Làm chứng trong trường hợp này đòi hỏi một sự can đảm đặc biệt. Điều này có nghĩa là chúng ta phải vượt qua nỗi sợ hãi của chúng ta về điều người ta sẽ nghĩ về mình hoặc nói về mình, và nỗi sợ hãi về cái giá mà chúng ta phải trả trong những lời lẽ như “Hãy để mặc kệ chúng tôi”.

Khi Đức Giêsu nói với các tông đồ anh em đừng sợ, Người không nói rằng họ phải không bao giờ cảm thấy sợ hãi. Người biết rằng đôi khi họ phải sợ. Vấn đề là họ cảm thấy nỗi sợ hãi nào có thể là nỗi sợ hãi làm họ tê liệt hoặc trở nên quá nhút nhát khiến họ không thể làm tròn sứ mạng của họ. Đức Giêsu đã tìm cách động viên họ để họ có thể hoạt động giữa những nỗi sợ hãi.

Họ phải vượt qua sự sợ hãi như thế nào? Người thúc giục họ phải hoàn toàn tín thác vào Thiên Chúa, Đấng chăm nom với lòng yêu thương sự sống và sự chết của họ những thụ tạo nhỏ bé nhất và ít có giá trị nhất, ví dụ như những con chim sẻ.

 

home Mục lục Lưu trữ