Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 154

Tổng truy cập: 2104909

LỆNH LÊN ĐƯỜNG

LỆNH LÊN ĐƯỜNG


Bài Tin Mừng hôm nay là phần quan trọng của "Bài Giảng Về Sứ Mệnh Truyền Giáo" (Mt 10). Các môn đệ được Ðức Giêsu sai đi loan báo "Nước Trời đã đến gần" (Mt 10,7). Họ được Ngài cho biết trước những khó khăn trên đường thi hành sứ mạng của mình, một sứ mạng được so sánh với hình ảnh "chiên đi vào giữa bầy sói" (Mt 10,16). Do vậy, bị ngược đãi và bị bách hại là số phận thường tình của những môn đệ trung thành với sứ mạng được trao.

"Như Cha đã sai Con đến thế gian, thì Con cũng sai họ đến thế gian" (Ga 17,18). Sứ mạng của người môn đệ tiếp nối sứ mạng của Con Thiên Chúa đã lĩnh nhận từ Cha. Chính vì vậy, người môn đệ cũng có chung số phận của Thầy "Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em" (Ga 15,20). Ðược sai đến thế gian, sống giữa thế gian (x. Ga 17,11) nhưng các môn đệ lại là những người không thuộc về thế gian (x. Ga 17,16) vì họ đã được tuyển chọn và được tách khỏi thế gian bởi Cha (x. Ga 17,6) và bởi Thầy Giêsu (Ga 15,19). Chính đây là lý do của việc họ bị thế gian thù ghét và bách hại (x. Ga 15,19).

Vinh Quang nơi Thập Giá

Ðức Giêsu đã tôn vinh Thiên Chúa Cha bằng chính cuộc khổ hình Thập giá. Giờ tử nạn của Ngài cũng chính là giờ Cha tỏ bày vinh quang cho Con Người (x. Ga 17,1-2). Ngay giây phút chết bi thương trên khổ giá, Ðức Giêsu tỏ cho con người biết phẩm giá cao quí nhất của mình: Ðó là phẩm giá làm con Thiên Chúa: viên đại đội trưởng đứng đối diện với Ðức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: "Quả thật, người này là Con Thiên Chúa" (Mc 15,39).

Vì Ðức Giêsu, người môn đệ sẽ bị mọi người thù ghét (Mt 10,22). Thế nhưng, những đau khổ mà người môn đệ phải chịu lại mang một ý nghĩa thật lớn lao, đó là "cùng chịu đóng đinh với Ðức Kitô vào Thập Giá" (Gl 2,19). Như thánh Phaolô xưa, người môn đệ của Ðức Kitô Giêsu qua bao đời vẫn có thể nói: "những gian nan thử thách Ðức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh" (Cl 1,24).

Trong đức tin, người môn đệ vẫn hằng lấy mầu nhiệm Thập Giá của Thầy làm vinh quang của mình "Vinh quang của ta là Thập Giá Ðức Kitô. Nơi Ngài ơn cứu độ của ta, phục sinh của ta". Người môn đệ là người được chính Thầy tỏ lộ cho biết những mầu nhiệm Nước Trời (x. Mt 13,11), đó là mầu nhiệm đã được giữ kín từ bao thời đại và qua bao thế hệ, nhưng nay đã được tỏ ra cho họ (x. Cl 1,26). Mầu nhiệm này đã được thánh Phaolô xác định cách rõ ràng, đó là mầu nhiệm "Ðức Kitô đang ở giữa nhân loại, Ðấng ban cho con người niềm hy vọng đạt tới vinh quang (x. Cl 1,27). Ðức Giêsu muốn cho người môn đệ tiếp tục công cuộc tỏ bày mầu nhiệm cứu độ ấy cho những ai chưa được nghe thấy: "Những điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày, và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng (Mt 10,27). Vì mục đích và sứ mạng rao giảng này, người môn đệ phải vất vả chiến đấu (x. Cl 1,29), nhưng chính Ðức Giêsu Phục Sinh vẫn hằng hoạt động mạnh mẽ nơi người môn đệ, khi họ thi hành sứ mạng được trao. Người môn đệ luôn cảm nhận một sức sống trào dâng nơi đời mình, một sự sống nhiệm mầu được diễn tả bằng câu nói: "Tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Ðức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20).

Có Ðấng Phục Sinh đồng hành

Vì có Ðức Kitô Phục Sinh đồng hành trên đường thi hành sứ mạng, nên người môn đệ vẫn hằng cảm thấy niềm vui khi bị bách hại và chịu thử thách trăm bề (x. Cl 1,24). Như Ðức Giêsu, Ðấng hằng vâng ý Cha, lấy ý Cha làm lương thực của mình (x. Ga 4,34), người môn đệ cũng được mọi người tín thác vào tình thương quan phòng của Cha để luôn vâng ý Cha.

Ngắm nhìn vũ trụ bao la, thế giới xinh đẹp, người môn đệ khắc ghi sâu đậm nơi lòng mình tình Cha vẫn hằng ấp ủ đỡ nâng tất cả mọi loài thọ sinh. Tuy là Ðấng có thể tiêu diệt cả xác lẫn hồn, nhưng Cha vẫn mãi mãi là Ðấng rất mực từ nhân. Cha hằng chăm sóc cho từng cánh hoa đồng nội, trang điểm cho đẹp xinh hơn cả vinh hoa tột bậc của vua Salomon quí phái (x. Mt 6,29). Cha giữ gìn từng cánh chim bé bỏng, nuôi chúng no đủ từng ngày (x. Mt 6,26) và không con nào phải rơi xuống đất ngoài ý Cha (Mt 10,29). Riêng đối với những môn đệ của Con Chí Ái, những người thuộc về Cha (x. Ga 17,6), Cha ân cần săn sóc đến nỗi biết đến từng sợi tóc trên đầu họ (x. Mt 10,30). Trong tình thương diệu vời của Cha, người môn đệ có cùng một lòng tri ân, thán phục của tác giả thánh vịnh 138:

"Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước,

Bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con.

Kỳ diệu thay, tri thức siêu phàm,

Quá cao vời, con chẳng sao vươn tới!

Ði mãi đâu cho thoát thần trí Ngài,

Lẫn nơi nào cho khuất Thánh Nhan?

Con có lên trời, Chúa đang ngự đó,

Nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài.

Dù chắp cánh bay từ phía hừng đông xuất hiện

Ðến ở nơi chân trời góc biển phương tây,

Tại đó cũng tay Ngài đưa dẫn.

Cánh tay hùng mạnh giữ lấy con (câu 5-9)

Chẳng giết được linh hồn

Hãy noi gương thánh nữ tử đạo Anê Lê Thị Thành. Người phụ nữ này bị bắt chính vì bà đã cho các thừa sai trú ẩn nơi nhà mình. Bà đã hành xử giống như nhóm phụ nữ cùng với Nhóm Mười Hai theo chân Ðức Giêsu và đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Ðức Giêsu và các môn đệ (x. Lc 8,1-3).

Tại Nam Ðịnh, quan toà bắt bà Anê Thành chối đạo, bà đáp: "Tôi chỉ tôn thờ Thiên Chúa, không bao giờ tôi bỏ đạo Chúa muôn đời."

Các quan truyền đánh đòn bà, lúc đầu bằng roi, sau bằng thanh củi lớn quật vào chân bà. Dịp chồng bà đến thăm, bà đã giải thích lý do tại sao bà chịu đựng nổi cơn đánh đập hung bạo đó: "Họ đánh đập tôi vô cùng hung dữ, đến đàn ông còn không chịu nổi, nhưng tôi đã được Ðức Mẹ giúp sức, nên tôi không cảm thấy đau đớn."

Dã man nhất là màn thả rắn độc vào trong áo bà Thành đang mặc. Họ đã túm lấy tay áo bà, có ý để rắn bị bức xúc sẽ cắn vào người bà. Nhưng bà Thành bình tĩnh lạ thường, không nhúc nhích, nên rắn không cắn, chỉ lượn vài vòng rồi bò ra.

Người con út của bà Thành là Luxia Nụ tới thăm mẹ và thấy y phục mẹ mình đầy vết máu, nên khóc nức nở. Bà Thành an ủi con: "Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy, mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu, sao con lại khóc?"

Bà Thành còn nói với cô Nụ: "Con hãy về chuyển lời mẹ bảo với anh chị em con coi sóc việc nhà, giữ đạo sốt sắng, sáng tối đọc kinh xem lễ, cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta sẽ đoàn tụ trên Nước Thiên Ðàng."

Trong thời gian ngồi tù, bà Thành không những chịu cực hình tra tấn, chịu đói, chịu khát, mà còn chịu khổ vì bệnh kiết lị hành hạ. Nhưng bà được an ủi nhiều vì có hai nữ tu cùng bị giam, săn sóc và giúp đỡ bà. Các linh mục cũng gởi thuốc, đến thăm và ban bí tích hoà giải, xức dầu.

Cuối cùng bà đã phó linh hồn trong tay Chúa theo gương Thầy Chí Thánh ngày 12 tháng 7, 1841, sau ba tháng bị giam, hưởng thọ 60 tuổi, và được Ðức Gioan Phaolô II phong hiển thánh năm 1998.

Một số câu hỏi gợi ý

1. Bạn được đánh động nhất về điều gì trong cuộc tử đạo của thánh Anê Lê Thị Thành? Bạn nghĩ thánh Anê Thành nêu gương sáng nào cho người môn đệ Chúa Giêsu?

2. Trong thế giới công nghiệp ta hiện đang sống, bạn thấy người Kitô hữu phải hy sinh từ bỏ đặc biệt về những khía cạnh nào trong cuộc sống để theo chân Chúa Giêsu?

 

73.Sứ giả

Không có chỗ nào sự chân thành của Chúa Giêsu được bộc lộ thật linh động bằng ở đây. Ngài phán với các môn đệ đúng điều họ sẽ gặp nếu họ chấp nhận chức năng làm sứ giả của Ngài. Tại đây Ngài đưa ra những đòi hỏi rất cao, rất mạnh và không thể dung hòa được, và cũng cho họ biết chẳng những được Thiên Chúa chăm sóc nhưng cũng được thiện cảm của loài người.

Trước hết Chúa Giêsu cho biết cái giá phải trả khi chấp nhận làm sứ giả:

1. Một lựa chọn quyết liệt:

khi một chính nghĩa xuất hiện, hậu quả tất nhiên là chia rẽ giữa con người, những kẻ đáp ứng và những kẻ chối từ chính nghĩa đó. Đối diện với Chúa Giêsu là phải đối diện với một chọn lựa, hoặc tiếp nhận hoặc chối bỏ Ngài. Thế gian bị chia đôi bởi những người thừa nhận Chúa Giêsu và những người không chấp nhận Ngài. Điều chua chát nhất trong cuộc chọn lựa này là kẻ phải loại bỏ lại chính là người thân. Có thể một người vì quá yêu gia đình đến nỗi không dám dấn thân phục vụ và hi sinh. Không dám theo Chúa vì không dám xa gia đình hoặc e ngại nguy hiểm.

Một người có thể đã từ chối phục vụ trong một sứ mạng nào đó vì người đó để tình cảm riêng làm tê liệt. Con người ít khi phải đối diện với sự lựa chọn này, có người suốt đời không hề gặp, nhưng sự thật vẫn là: những người thân yêu có thể trở thành kẻ cám dỗ nếu những lo nghĩ về họ có thể ngăn cản chúng ta làm theo điều Chúa muốn.

2. Chúa Giêsu hứa ban thập giá:

Người dân Galilê hiểu rất rõ thập giá. Khi tướng La mã Varus dẹp tan cuộc phản loạn của Giuđa ở Galilê, ông đóng đinh 2000 người Do thái vào thập giá trồng dọc hai bên đường cái xứ Galilê. Thời đó phạm nhân phải vác thập giá của mình đến chỗ hành hình. Những kẻ nghe Chúa nói đã từng thấy kẻ tử tội loạng choạng dưới sức nặng của cây gỗ và chết trong đau đớn cực độ. Những vĩ nhân của đức tin biết rõ điều họ đang làm. Khi một vị tử đạo bị dẫn đến trước quan tòa, ngài nói với quan tòa: "Thưa quan, luật pháp của Chúa chúng tôi đã dự bị hai cách tuân thủ: một là làm cách tích cực điều lương tâm tôi tin rằng buộc mình phải làm; hai là nơi nào mà tôi không thể tích cực vâng phục lương tâm tôi được, thì tôi sẵn lòng nằm xuống để chịu mọi đau khổ người ta đem tới cho tôi."

Kitô hữu có thể phải hy sinh những tham vọng riêng, sự thoải mái và tiện nghi mình được hưởng, hi sinh công trình mình đã thành đạt, cũng có thể dẹp bỏ mơ ước, phải biết rằng những cái huy hoàng mình thoáng thấy không phải là để cho mình. Sẽ phải hy sinh ý muốn mình, vì không có kitô hữu nào có thể làm điều mình muốn mà phải làm điều Chúa muốn. Trong Kitô giáo bao giờ cũng có thập giá vì Kitô giáo là Đạo thập giá.

3. Ngài ban cho một cuộc phiêu lưu:

Chúa bảo họ: “Ai giữ mạng sống thì mất, còn ai đành mất mạng sống vì Ngài sẽ giữ lại được". Nhiều lần điều đó đã được chứng minh cụ thể. Một điều luôn luôn đúng là nhiều người có thể cứu mạng sống mình cách dễ dàng, nhưng cứu được rồi thì lại mất, vì chẳng còn nghe ai nói đến nữa.

Epicteus nói về Socrates: "Bởi chịu chết mà ông được sống, vì ông không chạy trốn". Socrates có thể cứu mạng sống mình cách dễ dàng, nhưng làm thế con người Socrates rồi cũng sẽ chết và sẽ chẳng còn ai nghe thấy tên ông nữa.

Trong đời sống kitô hữu không có chỗ nào cho chính sách thủ thân. Người nào dành ưu tiên đi tìm sự thoải mái, yên ổn cùng sự thỏa mãn những khát vọng riêng, người đó có thể được tất cả những điều này, nhưng sẽ không bao giờ hạnh phúc, vì bạn đã được sai đến trần gian để phục vụ Chúa và anh chị em mình. Người ta có thể ôm giữ sự sống mình nếu muốn, nhưng bạn sẽ mất tất cả những gì làm cho cuộc đời đáng sống và có giá trị cho người khác. Con đường phục vụ Chúa và tha nhân, con đường làm trọn mục đích Chúa cho chúng ta, con đường dẫn đến chân phúc là dấn thân, sử dụng cuộc đời mình cách không ích kỷ, vì chỉ như thế mới tìm được sự sống trong đời này và cả trong cõi vĩnh cửu “chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.

Người sứ giả đích thực được Thiên Chúa ân cần săn sóc và sẽ được dân chúng tôn trọng. Khi Chúa Giêsu phán những lời này thì Người cũng dùng lối nói thông thường của người Do thái. Bao giờ họ cũng cảm thấy đón tiếp sứ giả của ai là tiếp nhận chính người đó. Tỏ lòng tôn kính sứ giả là tôn kính nhà vua đã sai người đến. Hoan nghênh người đại diện bạn cũng chính là hoan nghênh chính bạn mình. Người Do thái bao giờ cũng cảm thấy tôn trọng người đại diện là tôn trọng chính người đã ủy thác. Điều này áp dụng cho những nhà thông thái, những người dạy chân lý của Thiên Chúa. Các rabi thường nói: “Kẻ nào tiếp đãi người khôn ngoan không khác gì đem trái đầu mùa dâng cho Thiên Chúa. Kẻ nào chào hỏi người học thức chẳng khác gì chào mừng Chúa". Nếu ta tiếp một người thật thuộc về Chúa tức là tiếp nhận Đấng đã sai người ấy.

Lời Chúa đây trình bày bốn mắc xích trong sợi dây cứu chuộc:

- Thiên Chúa yêu thương, từ đó khởi sự toàn thể tiến trình cứu chuộc.

- Chúa Giêsu đem sứ điệp yêu thương đến với loài người.

- Loài người làm sứ giả, các tiên tri rao giảng, các người tốt làm gương, các môn đệ học hỏi và truyền lại cho người khác Phúc Âm mà chính họ đã nhận.

- Người tiếp nhận sứ giả và sứ điệp của Thiên Chúa nhờ đó tìm được sự sống cho linh hồn mình.

Trong đoạn Lời Chúa này có một điều thật đẹp, thích hợp cho những tâm hồn đơn sơ khiêm cung.

a) Chúng ta không thể đều là tiên tri, giảng và rao truyền lời của Thiên Chúa, nhưng người nào tiếp đãi sứ giả của Chúa sẽ nhận phần thưởng không kém chính vị sứ giả đó. Có nhiều người đã từng làm nhân vật đối với công chúng, có nhiều người với tiếng nói có thể nhen lửa trong lòng hàng vạn con người, có những người đã từng mang một gánh nặng vô cùng lớn lao về trách nhiệm và sự phục vụ công chúng; tất cả những người đó đều vui mừng làm chứng rằng họ không bao giờ duy trì được nỗ lực và yêu cầu của công tác nếu không có tình thương và sự chăm sóc, thiện cảm và tâm tình phục vụ của những người ẩn tích ở nhà. Khi đó sự cao trọng thật trước mặt Chúa người ta sẽ rất thường thấy một người chuyển động thế gian mạnh mẽ hơn cả lại hoàn toàn tùy thuộc vào một người khác, một người ẩn danh không ai biết đến. Các tiên tri cũng phải có bữa ăn, phải có áo quần, tiên tri cũng có một gia đình. Mong những ai thường làm những công tác dẫu dễ bị quên ơn như dọn dẹp nhà cửa, nấu ăn, giặt quần áo, coi em...đừng bao giờ suy nghĩ đó là những công việc chán ngắt và buồn tẻ mà là công tác cao trọng nhất của Chúa: và chắc sẽ được lãnh phần thưởng của tiên tri hơn là những người chỉ lo hội họp bỏ bê gia đình.

b) Tất cả chúng ta không thể đều là những gương sáng về việc lành, cũng không thể tất cả đều được cả thế giới biết là công chính, nhưng ai có thể giúp một người trở nên tốt sẽ nhận được phần thưởng của người tốt. G.H. Gee kể một câu truyện khá hay. Một cậu bé trong làng kia, sau nhiều gian nan, đã đạt đến chức mục sư. Người đã giúp cậu trong những ngày còn đi học là người thợ sửa giày trong làng. Ông này như nhiều đồng nghiệp khác, là người đọc nhiều, thấy xa và đã giúp cậu bé rất nhiều. Rồi đến ngày cậu được phép giảng dạy, ông thợ giày nói: "Mơ ước của tôi là được làm người rao giảng Phúc Âm, nhưng hoàn cảnh đời tôi không cho phép. Còn anh, anh đã đạt được điều mà tôi không thể đạt được. Tôi muốn anh hứa rằng sẽ để tôi đóng và sửa giày miễn phí cho anh. Tôi cũng muốn anh mang giày tôi đóng mỗi khi lên tòa giảng, như vậy tôi sẽ cảm thấy rằng anh đang đứng trên giày của tôi để giảng một Phúc Âm mà tôi mong muốn rao giảng". Bằng cách đó, người thợ giày đang phụng sự Chúa y như người truyền đạo và phần thưởng sau này của người thợ giày cũng y như vậy.

c) Không phải tất cả chúng ta đều dạy trẻ được, nhưng mỗi người đều có thể phục vụ trẻ. Có lẽ chúng ta không biết phương pháp dạy, nhưng buộc phải làm những nghĩa vụ đơn sơ mà nếu thiếu trẻ không sống được. Có lẽ trong đoạn này có ý không nói nhiều đến trẻ con về phương diện tuổi tác, nhưng nói về phương diện đức tin. Rất có thể các rabi thường gọi các môn sinh là bầy nhỏ. Có thể về phương diện kỹ thuật và văn hóa chúng không biết dạy, nhưng vẫn có thể dạy bằng đời sống và gương sáng mà một người đơn sơ nhất cũng có thể làm được.

Vẻ cao đẹp của giáo huấn này là nhấn mạnh đến sự vật đơn giản. Chúa và Hội Thánh bao giờ cũng cần đến những người hùng biện, những gương sáng của cuộc đời thánh thiện, các giáo sư lớn, những người mà tên tuổi thường được nhắc đến, nhưng Chúa và Hội Thánh cũng cần đến những người có một gia đình hiếu khách, những bàn tay săn sóc việc nhà, có tấm lòng quan tâm chăm sóc do tình yêu kitô hữu: "Tất cả mọi phục vụ đều bằng nhau trước mặt Thiên Chúa " (Browning) "hãy cám ơn ngọn đèn vì ánh sáng của nó, nhưng chớ quên người cầm đèn đang kiên nhẫn đứng trong đêm"(Tago).

home Mục lục Lưu trữ