Hình thành - Phát triển
Sinh hoạt giáo xứ
Tìm hiểu giáo lý
Xã hội
Đang online: 48
Tổng truy cập: 2253304
LÒNG TIN CỦA BÀ MẠNH THẬT
LÒNG TIN CỦA BÀ MẠNH THẬT
Lm. Trầm Phúc
Đôi khi Chúa Giêsu làm chúng ta ngạc nhiên. Trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa đọc cho thấy một trong những thái độ lạ kỳ của Chúa. Ngài là con người đầy lòng nhân hậu, Ngài đoái thương mọi người và dùng quyền năng của Ngài để cứu giúp mọi người, nhưng sao đứng trước nỗi thống khổ của một bà góa, Ngài xem như không màng tới mà có thái độ như dửng dưng. Tại sao? Chúng ta không thể hiểu. Có người cho rằng Ngài muốn thử thách lòng tin của bà. Có lẽ cũng có lý, nhưng chưa hẳn là như thế. Có thể có một lý do nào khác.
Miền Tia và Xiđôn là miền mà người Do Thái là thiểu số, Ngài đến đó như muốn yên nghỉ một lúc và để có thể gần gũi với các môn đệ và huấn luyện họ, sau khi đã chạm trán với những người lãnh đạo Do Thái. Thánh Maccô nói rõ hơn, Ngài không muốn ai biết Ngài. Nhưng rồi người đàn bà ngoại giáo này đã khám phá ra Ngài và đến cầu cứu trong cơn hoạn nạn thống khổ của mình. Bà dùng một tước hiệu mà chỉ có người Do Thái mới biết là gọi Chúa bằng tước hiệu Con Vua Đavít, tức là Đấng Mêsia, Đấng Cứu Thế của người Do Thái. Bà cũng nói rõ là con gái của bà đang bị quỉ ám. Những người mù ở Giêricô cũng gọi Ngài như thế. Đó là điều đáng chú ý nhất đối với Chúa Giêsu. Nhưng lạ lùng thay, Ngài lại làm ngơ, không trả lời.
Chúng ta không thể biết Chúa muốn gì khi tỏ thái độ như thế? Ngài là Đấng nhân hậu vô biên làm sao Ngài dửng dưng trước nỗi thống khổ của một bà mẹ như thế? Chúng ta có thể nghĩ rằng, Chúa biết rõ tâm hồn của bà mẹ khốn khổ đó, nhưng cũng muốn dùng dịp này cho các môn đệ một bài học. Có lẽ cũng thử thách đức tin của người mẹ đó, nhưng Ngài cũng chú tâm đến các môn đệ, cho họ một bài học rất quí báu.
Ngài đi từ cách đối xử của người Do Thái đến cách đối xử của Ngài. Người Do Thái kỳ thị những người ngoại đạo. Ngài cũng làm như thế đối với người phụ nữ ngoại giáo này. Ngài tỏ ra dửng dưng, không hề để ý tới lời cầu khẩn của bà. Nhưng bà không nản vì thái độ chối từ đó, bà tiếp tục nài nĩ mãi đến nỗi các môn đệ bực bội và xin Ngài cho bà ấy về đi. Ngài lại dùng cách nói của người Do Thái để trả lời cho bà và các môn đệ: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc nhà Israel mà thôi”. Hai lần bị xua đuổi, nhưng người mẹ này không nản chí và tiếp tục nài xin. Lần thứ ba Ngài vẫn như không màng gì đến lời cầu khẩn của bà và khẳng định quyền lợi của người Do Thái: “Không nên lấy bánh trên bàn của con cái mà ném cho chó”. Đây là một cách nói của người Do Thái, xem người ngoại như loài chó thôi. Người mẹ đau khổ này vẫn bền chí, bám vào hy vọng cuối cùng: “Thưa Thầy, lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. Và đây chính là kết cuộc. Chúa Giêsu ngỡ ngàng trước lòng tin can đảm của người đàn bà đau khổ: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì được như vậy”.
Nói rằng Chúa muốn thử thách lòng tin của người phụ nữ này cũng đúng, và khi thấy bà mạnh tin Chúa đã đáp lời bà. Nhưng đối với các môn đệ, đây là một bài học khác. Chúa Giêsu cho thấy cần phải có một cái nhìn mới chứ không chỉ khư khư trong những quyền lợi của mình, của nhóm đặc quyền của mình. Chúa Giêsu cho thấy Ngài vẫn tôn trọng quá khứ nhưng Ngài nhìn về tương lai. Phải vượt qua những rào cản của thủ tục, của những thói quen lâu đời. Ngài nhìn mọi người như nhau, lương hay giáo. Mọi người đều được mời gọi vào bàn tiệc Nước Trời. Tuy người Do Thái là ưu tiên, nhưng không chỉ là Do Thái. Thánh Phaolô phải đương đầu với những người Kitô hữu đầu tiên thân Do Thái và phải vất vả lắm mới có thể chấp nhận người ngoại vào đạo. Đối với Ngài, không còn ranh giới giữa Do Thái hay Hy Lạp, mà mọi người đều được quyền thừa hưởng ơn cứu chuộc của Chúa. Thánh Phêrô cũng gặp khó khăn khi chấp nhận người ngoại trở về với Chúa. Từ khi ngài được thị kiến từ trời những người quanh ngài mới chấp nhận cởi mở. Việc truyền giáo mới bắt đầu đi vào một đường lối mới.
Công Đồng Vatican II đã mở rộng con đường đối thoại với các tôn giáo và đã cho thấy quyền tự do tôn giáo của mọi người, vì con người có một phẩm giá cao cả. Không ai được quyền xem người khác là “chó” như người Do Thái xưa. Chúa Giêsu phá đổ mọi ranh giới ngăn cản con người hiệp thông với con người. Ngài từ từ giúp các môn đệ hiểu đường hướng mới của Ngài bằng cách chấp nhận một cách rõ ràng đức tin của người phụ nữ ngoại giáo kia.
Chúa Giêsu cũng muốn cho thấy rằng đức tin không là của riêng ai, hay của một dân tộc nào mà của mọi người. “Những con chó con” trở thành thực khách trong bàn tiệc cứu độ của Chúa. Đức tin cũng không là những tập tục tôn giáo hẹp hòi, mà là một hướng đi nhắm thẳng vào Chúa. Nhiều cộng đoàn Kitô hữu hẹp hòi vẫn còn giữa những tập tục xưa cũ, rườm rà, trở thành những chướng ngại cho người khác tìm về với Chúa. Nhiều linh mục vẫn còn óc hẹp hòi đòi hỏi những thủ tục rườm rà, những điều kiện gắt gao khiến nhiều người rời bỏ đức tin.
Một đám cưới. Khi đàng trai Công giáo đến rước dâu. Đàng gái là gia đình ngoại đạo chấp nhận cho con theo đạo. Khi bước vào nhà gái, thấy trên bàn tiệc có thắp mấy cây nhang. Cả bên đàng trai bỏ ra khỏi nhà vì nói rằng họ không ăn đồ cúng. Chủ nhà giải thích: “Chúng tôi không có cúng mà vì ruồi quá chúng tôi dùng nhang để đuổi ruồi thôi”. Nhưng đàng trai không chịu nghe lời giải thích và bỏ ra về. Chúng ta nghĩ sao? Đó chỉ là một ví dụ. Sự hẹp hòi đã đưa đến những hậu quả tai hại.
Chúa Giêsu đã bị người Do Thái lên án vì Ngài đã sống cho con người chứ không cho một thủ tục nào. Ngài đã từng tuyên bố: “Ngày sabat được tạo cho con người chứ không phải con người được tạo nên cho ngày sabat”.
Chúng ta đang sống trong một xã hội đầy những ranh giới, màu da, sắc tộc, xã hội, tôn giáo, kinh tế… Con người hôm nay chỉ biết sống cho quyền lợi cá nhân hay phe nhóm của mình và loại trừ tất cả những người không cùng chung chí hướng với mình, đã tạo nên một tình trạng căng thẳng trong tất cả mọi lãnh vực. Có những nơi bách hại tôn giáo cực kỳ dã man. Chúa Giêsu luôn chủ trương hiền lành và khiêm nhượng. Người Công giáo chúng ta cần can đảm không nhượng bộ về đức tin, nhưng vẫn luôn chấp nhận mọi người nhất là những người thiện chí để cùng nhau xây dựng một xã hội nhân đạo hơn.
Chúa Giêsu muốn cho thấy, Kitô giáo là không có ranh giới. Mọi người là con của Cha trên trời. Giáo hội vẫn là gia đình của mọi dân tộc. Những lễ hội như những Đại Hội Giới Trẻ thế giới là những dịp để mọi người thấy rằng Giáo hội là của mọi người, phục vụ mọi người, và mọi người là anh em, không còn phân biệt chủng tộc màu da, nam hay nữ. Tất cả đều cùng nhau vui mừng trong tình yêu của Cha trên trời, cùng nhau ca tụng Cha bằng ngôn ngữ của mình, bằng tiếng hát, bằng nền văn hóa đặc thù của mình.
Chúa Giêsu nhậm lời người phụ nữ ngoại giáo kia, cho chúng ta thấy rằng phải xóa bỏ những rào cản của chính chúng ta, những thói quen kỳ thị, những tiên kiến, những tị hiềm của chúng ta để hướng tới những người anh em khác đang cần được che chở, được ủi an, được khích lệ, để gieo niềm vui cho một xã hội đã tiều tụy vì tham lam và đầy gian ác. Hãy làm sao cho con tim chúng ta luôn rộng mở để biết lắng nghe những tiếng gọi của biết bao nhiêu người đang bập bềnh trong một cuộc sống không còn hy vọng.
Muốn thế, chúng ta cần trở về với Chúa, với tình yêu vô biên của Ngài, vì chúng ta luôn hẹp hòi, bảo thủ trong pháo đài cá nhân của chúng ta. Chúa Giêsu bảo chúng ta: “Hãy ra khơi”. Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng bảo: “Hãy ra đi”.
Chúng ta ngại chăng? Vì chúng ta không dám ra khơi, chúng ta sợ mất mát không dám cho đi. Làm sao Chúa Giêsu được yêu thương nếu chúng ta ngại ngùng không dám dấn thân? Có muôn ngàn cách dấn thân. Có những người rời bỏ gia đình để đi phương xa rao truyền Danh Thánh Chúa, có những người dấn thân giúp đỡ người cùng khốn, những nạn nhân của những bệnh ngặt nghèo, tranh đấu cho những mục tiêu nhân đạo… Nhưng cũng có những cách dấn thân khác. Dấn thân không có nghĩa là phải chỉ là đi xa hay bỏ việc gia đình, mà là đem vào cuộc sống thường ngày tình yêu của Chúa thay vì chỉ nghĩ đến đồng tiền hay lợi nhuận. Dấn thân trong cầu nguyện liên lỉ, bằng những hy sinh nhỏ bé, những việc phục vụ đơn thường và vui tươi, trong gia đình cũng như trong mọi môi trường khác. Là người tin Chúa, chúng ta không thể không làm gì cho Chúa hay cho anh em. Chúng ta có rất nhiều công việc phải làm, tùy theo khả năng, môi trường của mỗi người. Điều quan trọng là chúng ta có thực sự muốn làm việc cho Chúa hay không.
Chúa Giêsu, con người đã triệt để dấn thân vào trần gian, đã mở cho chúng ta con đường mới, con đường của tình yêu. Ngài vẫn còn tiếp tục công việc của Ngài qua những con người hèn kém của chúng ta và muốn chúng ta cộng tác với Ngài. Ngài vẫn tiếp tục nuôi chúng ta bằng chính thịt máu Ngài để chúng ta can đảm hơn. Ngài bảo chúng ta: “Hãy đến”, như đã bảo Phêrô đi trên mặt nước. Hãy đến ăn lấy tấm bánh thần linh, hãy là thực khách của bàn tiệc tình yêu để dám cho đi, cho đi tất cả cuộc đời trong khiêm nhu và tin yêu.
22.Lòng tin--Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Lời rao giảng của các tiên tri trong thời Cựu Ước được dành cho người Do-thái trước tiên. Họ là Dân đã được Thiên Chúa chọn để cưu mang ơn cứu độ cho nhân loại. Dân Do-thái là một dân tộc văn minh có lề luật hướng dẫn và có cơ cấu tổ chức chu đáo. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn lại hơn hai ngàn năm về trước, cuộc sống của dân làng rất đơn sơ mộc mạc. Ngày đó, họ chưa có các phương tiện văn minh kỹ thuật về các phương diện khoa học trong đời sống. Nhất là về vấn đề thông tin, in ấn và truyền thông. Các tiên tri đã nỗ lực rao giảng và luôn nhắc nhở con dân quay về với Thiên Chúa: Đây Thiên Chúa phán: Hãy giữ luật và thực thi công bình, vì ơn cứu độ của Ta đã gần tới và sự công chính của Ta sẽ tỏ hiện (Is 56, 1). Sự rao giảng bằng cách truyền đạt rỉ tai và âm thầm loan truyền sứ điệp một cách rất chậm rãi qua các thế hệ. Lời rao giảng được ghi chép bằng tay cuộn thành từng cuốn sách được cất giữ và lưu truyền.
Lịch sử ơn cứu độ đi vào hành trình cuộc sống cụ thể của xã hội. Dân bị ảnh hưởng bởi văn hóa và tín ngưỡng của các dân tộc lân bang tôn thờ các tượng thần gỗ đá vô cảm. Các vị Thần này do con người làm nên, tặng ban và phong thần để có thể đáp ứng thỏa mãn mọi nhu cầu đòi hỏi của bản năng. Nhiều người đã ưa thích chạy theo thói đời dễ dãi, buông thả và thụ hưởng. Các Vị Thần như các bình phong để con người tự điều khiển theo ý muốn của mình. Các nhà cầm quyền dựa vào uy tín của thần minh để thống trị và cai quản dân chúng. Các tôn giáo ngoại bang chủ trương thờ cúng các thần minh theo nhu cầu của cuộc sống, tạo nên các thần mưa, gió, bão, núi, sông, mặt trời, mặt trăng, thần bò vàng, thần cây cối… và các thần vô danh. Gọi chung là Đa Thần Giáo. Các nghi lễ cúng bái thờ lạy các Thần chỉ là những hình thức bề ngoài trống rỗng. Các Thần chỉ là gỗ đá, có mắt mà không nhìn, có tai mà không nghe và chỉ trơ trọi như một xác không hồn.
Trong bài phúc âm kể câu truyện người đàn bà quê ở Canaan, vùng đất của dân ngoại, đến kêu van Chúa Giêsu trừ quỷ cho con gái của bà. Con người thường bị ma quỷ quấy phá và ám ảnh. Tự sức con người đành bó tay. Các Thần Minh cũng chẳng có quyền hành gì trên ma quỷ. Người đàn bà đã chạy đến với Chúa xin cứu giúp: Bà kia đến lạy Người mà nói: Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi (Mt 15, 25). Chúa đã thử thách bà về lòng tin. Bà tỏ ra có đủ sự khiêm nhượng để nhận ra quyền năng của Thiên Chúa. Bà không ngại nhận mình chỉ là ‘chó con’, cũng được thừa hưởng ân lộc của Thiên Chúa: Bấy giờ, Chúa Giêsu trả lời cùng bà ấy rằng: Này bà, bà có lòng mạnh tin. Bà muốn sao thì được vậy. Và ngay lúc ấy, con gái bà đã được lành (Mt 15, 28). Tuy sống chung đụng giữa những người dân ngoại, nhưng không phải mọi người đều lệ thuộc hay tỏ lòng thờ kính những vị Thần vô tri vô giác. Nhiều người vẫn muốn đi tìm sự thật và nguyên nhân cùng đích của cuộc đời. Trên thực tế, có biết bao nhiêu người bị hướng dẫn lầm lạc trong vấn đề niềm tin tôn giáo. Họ tôn thờ những vị thần mà họ không biết. Thật đáng thương!
Dân tộc Do-thái được Thiên Chúa mạc khải và hướng dẫn sống trong lề luật và huấn lệnh. Chúng ta biết rằng sống trong khuôn khổ của các giới răn cũng không phải là dễ dàng. Vì tâm lòng con người mong muốn được cuộc sống tự do không bị ràng buộc. Trải qua lịch sử ơn cứu độ, chúng ta thấy Thiên Chúa đã thực hiện biết bao sự lạ lùng và ưu đãi dân hết mực, vậy mà dân chúng cứ chứng nào tật đó. Sự cám dỗ của cuộc sống vô thần hay đa thần giáo luôn kéo lôi con người trở lại sự vô tri. Vì nhiều người tin vào Đa Thần sẽ tự tìm thỏa mãn mọi khát vọng thấp hèn của bản năng, mà không bị lương tâm cắn rứt. Nhưng dân Do-thái được hướng dẫn để đặt niềm tin vào Thiên Chúa độc thần. Một Thiên Chúa có uy quyền và yêu thương con dân của Người. Thiên Chúa nhân từ, công bằng và thưởng phạt công minh.
Qua hơn hai ngàn năm, Tin mừng tiếp tục được rao truyền khắp nơi. Số người tin Chúa có gia tăng nhưng so với dân số thế giới, số tín hữu không tăng thêm. Giáo Hội có nhiều phát triển không đồng đều như những sóng triều khi thịnh khi suy tùy thuộc vào mỗi địa phương, văn hóa, chủng tộc và ngôn ngữ. Khi chúng ta nhìn chung chung qua những sinh họat của Giáo Hội Công Giáo tại Giáo Đô, tại các Nước thứ ba và trong các Nước đang phát triển, chúng ta thấy có tia hy vọng và lạc quan. Các cuộc tổ chức Đại hội, đại lễ và các cuộc hành hương rất hoành tráng, qui tụ đông người và long trọng. Các nhà thờ tiếp tục được xây dựng mới và sửa chữa tu bổ rất khang trang. Số giáo dân vẫn sinh hoạt sầm uất và mỗi năm có thêm nhiều các tân tòng. Có nhiều ơn gọi dâng mình cho Chúa trong các Dòng tu đạo đời.
Tuy nhiên, thực tế tại các nước văn minh, nhất là Âu Châu, niềm tin tôn giáo đã dần bị phai mờ. Ngay tại nơi Chúa Giêsu giáng trần, con số Kitô hữu rất khiêm nhượng. Tại Belem, Giêrusalem và Nazarét, những nơi thánh trở thành các di tích làm chỗ cho khách hành hương kính viếng. Các đền thờ, nhà thờ và hội đường ít người lui tới. Giáo dân thưa thớt và bị chia năm sẻ bảy, mỗi nhóm tôn giáo sở hữu một khu vực. Đa số các tín hữu bị ảnh hưởng bởi các trào lưu trong xã hội. Nhiều người đang chạy theo cuộc sống thực tế mong tìm cái ăn, cái uống, hưởng thụ và thỏa mãn mọi nhu cầu đòi hỏi. Không còn quan tâm nhiều đối với đời sống tâm linh và sự sống ngày sau.
Đôi khi chúng ta cảm thấy hơi bi quan vì nhiều người Kitô hữu không còn muốn thực hành đạo. Các nhà thờ bị trống vắng nhiều. Con số tín hữu tham dự lễ Chúa Nhật giảm sút đáng kể. Thờ ơ với các Bí Tích nhất là Bí tích Thánh Thể và Hôn Phối. Ơn gọi dâng hiến phục vụ thiếu hụt. Nhiều nhà thờ bị đóng cửa vì thiếu tài chánh nâng đỡ. Tin đạo, nhưng không muốn sống và thực hành các giới răn của Chúa hay huấn quyền. Rất nhiều tín hữu cấp tiến đồng ý chấp nhận những điều nghịch với giáo huấn của Giáo Hội về đạo đức luân lý như vấn đề công bằng xã hội, quyền sự sống, quyền lao động, về hôn phối của các cặp đồng tính, ngừa thai, phò phá thai, trợ tử và tử hình... Có nhiều tín hữu không chống đối hay từ bỏ niềm tin, họ vẫn mang danh Kitô hữu, nhưng sống theo chủ nghĩa tương đối. Quan niệm sống đạo một cách cởi mở và dễ dàng. Đây là vấn đề nhức nhối trong mục vụ. Một số các thành viên vẫn tham dự đầy đủ các sinh họat tôn giáo, nhưng không muốn thay đổi cuộc sống nội tâm. Nhất là sự liên hệ trong đời sống gia đình như ly dị, tái hôn và sống chung bất hợp pháp. Đời sống luân lý bị tụt dốc gây rất nhiều những khó khăn trong vấn đề giáo dục con cái và xây dựng gia đình, cộng đoàn.
Thiên Chúa chọn dân tộc Do-thái để thể hiện ơn cứu độ. Chúa tiếp tục ban ơn: Vì Thiên Chúa ban ơn và kêu gọi ai, thì Người không hề hối tiếc (Rm 11, 29). Dân Do-thái vẫn được Thiên Chúa chúc phúc qua các thế hệ. Người Do-thái có một sức mạnh phi thường. Họ phải đối đầu với cả khối Ả-Rập ở Trung Đông, nhưng vì sống còn, họ vẫn hiên ngang chiến đấu. Họ là những người đi tiên phong trong các lãnh vực về chính trị, kinh tế, xã hội và khoa học. Dân Do-thái là dân tộc thông minh và mạnh mẽ. Nguồn gốc của Đạo Công Giáo do chính người Do-thái dựng xây. Chúng ta có Đức Maria, Phêrô, các Tông đồ, môn đệ và các Giáo đoàn tiên khởi đều là người Do-thái. Chúng ta hãy luôn cầu nguyện cho họ, vì đôi khi: Thiên Chúa đã để mọi người phải giam hãm trong sự cứng lòng tin, để Chúa thương xót hết mọi người (Rm 11, 32). Thánh Phaolô đã có những suy tư rất chân thật và hoàn toàn đặt niềm tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa.
Lạy Chúa, xin cứu giúp chúng con. Giữa cơn phong ba bão tố của niềm tin, cậy và mến, xin cho chúng con biết chạy đến với Chúa xin ơn phù trợ. Chúa có lời ban sự sống đời đời.
Các tin khác
.: GIẢNG CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN (15/08/2026) .: HỠI NGƯỜI ĐÀN BÀ KIA, ĐỨC TIN CỦA NGƯƠI RẤT MẠNH! (15/08/2026) .: ĐỨC TIN LÀ MỘT LỘ TRÌNH (15/08/2026) .: CHỮA LÀNH CON GÁI MỘT PHỤ NỮ CANAAN (15/08/2026) .: ĐỂ BÀ ẤY VỀ ĐI (15/08/2026) .: ƠN CỨU ĐỘ ĐƯỢC BAN CHO MỌI NGƯỜI (15/08/2026) .: LÒNG TIN VÀ TÌNH YÊU (15/08/2026) .: KỲ THỊ (15/08/2026) .: HÀNH TRÌNH NIỀM TIN VÀ TÌNH YÊU (15/08/2026) .: LÒNG TIN THỬ THÁCH (15/08/2026) .: SỨC MẠNH CỦA LÒNG TIN (15/08/2026) .: VỮNG VÀNG TIN TƯỞNG (15/08/2026) .: THỨ THÁCH DƯỜNG NHƯ QUÁ SỨC (15/08/2026) .: NÀY BÀ, LÒNG TIN CỦA BÀ MẠNH THẬT (15/08/2026) .: TIN YÊU SỐNG BÍ TÍCH THÁNH THỂ THEO GƯƠNG ĐỨC MẸ (15/08/2026)
Mục lục Lưu trữ
- Văn Kiện Giáo Hội
- Giáo Hội Công Giáo VN
- Tin Ngắn Giáo Hội
- Tài Liệu Nghiên Cứu
- Tủ Sách Giáo Lý
- Phụng Vụ
- Mục Vụ
- Truyền Giáo
- Suy Niệm Lời Chúa
- Lời Sống
- Gợi Ý Giảng Lễ
- Hạnh Các Thánh
- Sống Đạo Giữa Đời
-
Cầu Nguyện & Suy Niệm
- Cầu Nguyện
- Suy Niệm
- Cầu Nguyện Là Gì?
- Cầu Nguyện Từ Mọi Sự Vật
- Suy Niệm Đời Chúa
- Mỗi Ngày Năm Phút Suy Niệm, (Mùa Vọng -> CNTN) - Năm A
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A - Mùa Chay
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A - Mùa Phục Sinh
- Mỗi Ngày Năm Phút Suy Niệm - Mùa Chay, C
- Năm Phút Suy Niệm Lời Chúa - Tuần Thánh - Phục Sinh, C
- Năm Phút Suy Niệm Lời Chúa Mỗi Tuần Thường Niên C
- Năm Phút Suy Niệm, Năm B (2011-12)
- Năm Phút Suy Niệm, Năm C (2012-13)
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A (2013-14)
- Cầu Nguyện Chung
- Suy Tư Và Thư Giãn
- Thánh Ca Việt Nam
- Phúc Âm Nhật Ký
- Thơ
- Electronic Books (Ebooks)
- Vatican
- Liên HĐGM Á châu
- Đài Phát thanh Chân lý Á châu - Chương trình Việt ngữ
- Giáo phận Bà Rịa
- Giáo phận Ban Mê Thuột
- Giáo phận Bắc Ninh
- Giáo phận Bùi Chu
- Giáo phận Cần Thơ
- Giáo phận Đà Lạt
- Giáo phận Đà Nẵng
- Tổng Giáo phận Hà Nội
- Giáo phận Hải Phòng
- Tổng Giáo phận Huế
- Giáo phận Hưng Hóa
- Giáo phận Kon Tum
- Giáo phận Lạng Sơn
- Giáo phận Long Xuyên
- Giáo phận Mỹ Tho
- Giáo phận Nha Trang
- Giáo phận Phan Thiết
- Giáo phận Phát Diệm
- Giáo phận Phú Cường
- Giáo phận Qui Nhơn
- Giáo phận Thái Bình
- Giáo phận Thanh Hóa
- Tổng Giáo phận TP HCM
- Giáo phận Vinh
- Giáo phận Vĩnh Long
- Giáo phận Xuân Lộc
- Ủy ban BAXH-Caritas Việt Nam
- Ủy ban Công lý và Hòa bình
- Ủy ban Giáo dục Công giáo
- Ủy ban Giáo lý Đức tin
- Ủy ban Kinh Thánh
- Ủy ban Mục vụ Di dân
- Ủy ban Mục vụ Gia đình
- Ủy ban Nghệ Thuật Thánh
- Liên hiệp Bề trên Thượng cấp Việt Nam