Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 50

Tổng truy cập: 2253306

CHỮA LÀNH CON GÁI MỘT PHỤ NỮ CANAAN

CHỮA LÀNH CON GÁI MỘT PHỤ NỮ CANAAN

 

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Hãy so sánh trình thuật của Mt với trình thuật song song Mc 7, 24- 30. Mt nhấn mạnh nhiều hơn Mc nhất là về các lời van xin của người đàn bà và lời chối từ của chua Giêsu. Tại sao?

2. Có gì lạ không khi bà xứ Canaan gọi Chúa Giêsu là “Con Đavít”?

3. Lời Chúa Giêsu tuyên bố mình chỉ được sai đến “cho những chiên lạc nhà Israel” phải chăng không mâu thuẫn với sự kiện cuối cùng Người đã chữa lành con gái của bà ngoại đạo này?

4. Tại sao thoạt tiên Chúa Giêsu chối từ lời cầu xin của bà xứ Canaan? Để thử đức tin của bà? Nhưng đức tin của bà không lớn sao khi gọi Chúa Giêsu là “Con Đavít” và bái lạy Người? Hay để soi sáng đức tin ấy? Bằng cách nào?

1. Như đã thấy trong các đoạn văn trước; sau khi bị dân Nadarét khước từ và sau cái chết của Gioan Tẩy giả, Chúa Giêsu đã dồn nỗ lực giảng dạy cho các môn đồ, chứ không ngỏ lời với đám đông dân chúng nữa, và chỉ chữa lành những kẻ yếu hệt trong họ mà thôi. Tuy nhiên, các cuộc tranh luận với nhóm Biệt phái vẫn tiếp tục diễn ra ngày càng sôi nổi. Chúa Giêsu khiển trách nhóm Biệt phái đã thêm nhiều quy khoản vào luật Môisen đến nỗi bộ Luật trong thực tế đã bị các quy khoản này hủy bỏ, đó là chưa kể chỉ có một ít người chuyên chú đến vô số khẩu truyền do tiền bối để lại, mới có thể chấp hành đúng các quy khoản ấy. Người phản ứng bằng cách chấn hưng luật Môisen lại trong tính cách giản đơn nguyên thủy của nó, để ai ai cũng có thể chấp hành được.

Trong đoạn văn nằm trước đoạn này, Chúa Giêsu còn đi xa hơn nữa. Suốt cuộc tranh luận với Biệt phái về thức ăn trong sạch và uế tạp, hình như Người ngụ ý có thể ăn các thực phẩm bị chính luật Môisen cấm? Thế mà đó là một trong các nguyên nhân chia rẽ chính giữa người Do thái và lương dân. Thành thử Chúa Giêsu xem ra thiên về đường hướng mềm dẻo hơn đối với dân ngoại. Chính trong bối cảnh ấy đã xuất hiện đoạn văn chữa lành con gái của người đàn bà xứ Canaan. Trong giai thoại này, Mt trình bày Chúa Giêsu làm phép lạ cứu giúp một phụ nữ ngoại giáo. Đứng trước sự cứng lòng tin của dân Người và thái độ chống đối ngày càng kịch liệt của các thủ lãnh họ, phải chăng Chúa Giêsu quyết định bỏ mặc Israel cho số phận nó, để từ đây chỉ đi đến với lương dân? Không, Mt bảo đấy không phải là chủ ý của Người. Quả thế, Chúa Giêsu chỉ làm phép lạ này sau một cuộc chối từ dai dẳng, như thể ban vì bất đắc dĩ mà thôi. Và trước khi ban, người còn muốn xác quyết mạnh mẽ việc tuyển chọn Israel trước mặt các môn đồ và ngay chính khi dân Do thái cứng lòng tin nhất: “Ta chỉ được sai đến cho những chiên lạc nhà Israel thôi “. Vả lại Người đã chẳng sai nhóm Mười hai đi truyền giáo cho họ đó sao (10, 6)? Phải phân phát bánh, nghĩa là Tin Mừng, cho “con cái”, nghĩa là cho những kẻ thừa tự Lời Hứa đã. Vì thế Chúa Giêsu chỉ nhượng bộ trước lời cầu xin của người đàn bà, sau khi bà đã nhận ra sự chia cách do Thiên Chúa muốn giữa dân Ngài và mọi dân khác. Sự chia cách ấy bao giờ cũng linh thánh vậy.

2. Đàng khác, nhưng một cách phụ tùy, lời Chúa Giêsu từ chối nhằm thử thách, và như thế để làm nổi bật đức tin của bà ngoại đạo Chính nhờ đức tin mà người ta trở nên con cái đích thực của Abraham. Nếu Israel ương ngạnh cứng lòng, thì Thiên Chúa được tự do gầy dựng, ở nơi Ngài muốn, một hậu duệ mới cho Abraham (3,9) và gọi là dân Ngài những kẻ xưa kia không phải là dân Ngài (1Pr 2, 10). Quả trình thuật này muốn phát biểu cái mầu nhiệm “chưa hề thông tri cho con cái loài người trong các thế hệ trước…ấy là dân ngoại là kẻ đồng thừa tự, là chi thể của cùng một Thân mình… ” (Ep 3, 4- 6). Chính mầu nhiệm ân sủng dành cho dân ngoại ấy, Giáo Hội đã phải thừa nhận tại Hội nghị Giêrusalem: “Thiên Chúa, Phêrô bảo, đã tẩy sạch lòng họ bằng đức tin” (Cv 15, 9) và Giacôbê nói tiếp: “Ngài đã chiếu cố lấy tự giữa lương dân một dân thờ danh Ngài” (Cv 15, 14).

Thành ra giai thoại người phụ nữ Canaan hàm chứa hai khẳng định có vẻ mâu thuẫn và nghịch lý: Israel là dân được tuyển chọn nhưng Thiên Chúa vẫn vô cùng tự do trong việc hoàn tất ơn cứu độ của Ngài.

3. Sau cùng, việc chấp nhận tiếng kêu xin kiên trì của người đàn bà là một lời gián tiếp lên án sự công chính và mối an tâm giả tạo của người Do thái, những kẻ vốn cậy dựa vào truyền thống và huyết thống của họ để đòi hỏi sự chọn lựa của Thiên Chúa, chứ không biết lãnh nhận ơn ấy trong đức tin. Còn người đàn bà Canaan cuối cùng đã được điều mình ước nguyện, vì biết đứng trước mặt Thiên Chúa, trong thái độ đợi chờ đầy khiếm tốn và từ bỏ mà Bát phúc đã diễn tả, thái độ xứng đáng được ban thưởng nước Trời. Dưới chân Chúa Giêsu, bà chỉ còn là một kẻ hành khất kiên trì kêu xin, bền lòng hy vọng, như Abraham, như bà góa trong dụ ngôn (Lc 18, 1- 8), như những người mạnh bạo chiếm đoạt lối vào Nước Trời (Mt 11, 12). Lời cầu nguyện của bà chỉ là hình thức cụ thể và sống động của đức tin bà có. Chúa Giêsu thấy lòng tin ấy lớn thật, vì là một đức tin toàn diện; nó biểu lộ một tâm hồn không san sẻ hằng chờ đợi ân sủng và ý muốn tự do của chủ thỏa mãn cơn đói. Nhưng đồng thời nó cũng làm hiển lộ sự mù quáng và thành kiến của những kẻ đồng hương với Chúa Giêsu vốn không chịu nhìn nhận Người là Đấng Messia của họ, trong lúc “con chó ngoại đạo” này đã nhận ra Người là “con Đavít” (c.22).

4. Giai thoại người đàn bà xứ Canaan gián tiếp đưa ra một bằng chứng về sự lương thiện rất mực của Mt trong tư cách chứng nhân lịch sử của truyền thống phát xuất từ chúa Giêsu. Quả thế, khi nhấn mạnh việc Chúa Giêsu từ chối nhậm lời cầu xin của bà ngoại đạo), Mt cho thấy người, dù bị giới cầm quyền Do thái phủ nhận, đã nghiêm túc giữ đúng chương trình chỉ rao giảng cho con cái Israel, chứ không rao giảng cho lương dân. Thế mà lúc Mt ghi chép Tin Mừng, và điều này lại càng đúng hơn nếu ta kéo lùi thời gian ông biên soạn, thì lương dân đã gia nhập Giáo Hội rồi. Thật là một cám dỗ (muốn loại bỏ) đối với thánh sử khi phải cho thấy sự kiện đó đã xảy ra trong sứ vụ rao giảng của Chúa Giêsu. Nếu có lần nào Mt bị cám dỗ biến giáo lý của ông theo những mục đích hộ giáo, thì có lẽ là trường hợp hiện tại. Thành thử giai thoại này, cái giai thoại không phải không gây khó khăn cho những người theo chủ trương phổ quát như  Phaolô chẳng hạn, là một trong các chứng cớ chắc chắn nhất về tính cách vững chãi của truyền thống liên quan đến Chúa Giêsu, và về lòng ngay thật của các tác giả Tin Mừng.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Ra khỏi đó, Chúa Giêsu lui đến miền Tyrô và Siđôn”. Đừng tìm cách xác định lộ trình của Chúa Giêsu từ chỗ ra khỏi đó, một thành ngữ rất mơ hồ, đến miền Tyrô và Siđôn. Đúng hơn việc định vị này có một ý nghĩa thần học: Matthêu muốn nói Chúa Giêsu tiếp xúc với lương dân sống trong các miền ấy, nơi cũng có rất nhiều người Do thái ở. Thành ngữ Tyrô và Siđôn, theo cựu truyền, chỉ vùng đất của dân ngoại dọc theo biên giới bắc-đông bắc của Palestine, mà ta cũng còn gọi là xứ Phênixia. Dân Phênixia tự gọi mình là người Canaan, và Cựu ước lẫn Tân ước cũng kêu họ như vậy.

"Một phụ nữ Canaan...": Thành ra bà này không phải là một người Do thái sống trong vùng ngoại đạo nhưng, như phần tiếp trình thuật cho thấy, là một người ngoại đạo biết rõ hoạt động của Chúa Giêsu và có lẽ cũng nhiễm ít nhiều niềm tin Do thái. Đừng quá ngạc nhiên khi thấy bà ta gọi Chúa Giêsu là con Đavít: theo Mc 3, 8 danh tiếng Người đã vang nhanh đến các vùng này. Thành thử khi gán tước hiệu đó cho Chúa Giêsu, không chắc bà tin Người là Đấng Messia; có lẽ đúng hơn bà chỉ lặp lại điều đã nghe dân Do thái trong vùng nói về Người; vì thế, niềm tin mà Chúa Giêsu thán phục ở c. 28 đúng ra là chính niềm tin được biểu lộ trong câu đáp đầy khiêm tốn ở c.27, nơi người đàn bà Canaan minh nhiên công nhận, dù là ngoại giáo, quyền ưu tiên được cứu rỗi của Israel.

"Ra khỏi vùng đó... ": BJ dịch ra như thế các chữ Hy lạp apo ton horion ekeinon exelthousa và còn ghi chú thêm: "ân huệ mà cuối cùng Chúa Giêsu đã ban cho bà ngoại giáo ấy cũng chỉ được ban trong đất Israel". Nhưng hình như c.21 cho thấy là Chúa Giêsu ra khỏi lãnh thổ Israel để đến các vùng ngoại đạo mà? Kỳ thực, ranh giới địa dư, chính trị và chủng tộc giữa Galilê, Syria và Phênixia không có gì rõ ràng. Đàng khác động từ Hy lạp ra khỏi (exelthousa) với giới từ apo cũng có thể chỉ muốn nói bà này có xuất xứ ngoại đạo. Thành ra có thể dịch phần đầu của c.22 như sau: "Và này môt người đàn bà Canaan ở vùng đó...". Cách dịch này ăn khớp hẳn với câu trước vậy (c. 21).

“Ta chỉ được sai đến cho những chiên lạc nhà Israel thôi". Một câu trả lời nặng óc địa phương như thế hẳn là chướng tai đối với Giáo Hội, vì ngay từ trước thời Phaolô, Giáo Hội đã bắt đầu hoạt động truyền giáo giữa lương dân (Cv 10, 44-48). Thật ra Chúa Giêsu nhắc tời một ủy nhiệm lãnh từ Thiên Chúa động từ ở thể thụ động, không túc từ động tác, là một cách nói bóng gió về Thiên Chúa mà không nêu danh Ngài). Và ủy nhiệm này hoàn toàn phù hợp với các sấm ngôn tiên báo sẽ có ngày giao đuổi các mục tử giả nhà Israel để ban trách vụ mục tử cho Đấng Messia (Ed 34, 23). Chúa Giêsu loan báo giờ đó đã đến. Vai trò của Người là tái lập Israel thành một đàn chiên duy nhất, trung tín với Giavê. Khi dân Israel lại được quy tụ và đi theo Thiên Chúa, mục tử chân chính của nó, thì bấy giờ các dân tộc trên thế giới mới được quy tụ quanh Thiên Chúa thật. Nhưng giai đoạn thứ hai này của chương trình cứu rỗi không trực tiếp liên hệ đến sứ mệnh của Người, xét như là Đấng Messia. Người chỉ chuẩn bị giai đoạn đó thôi.

"Chó con": Hy ngữ kunarion (chó con) là hình thức yếu nghĩa (diminutit) của chữ khôn (chó). Đa số các nhà chú giải xem việc dùng yếu nghĩa từ này là cách làm dịu bớt sự khinh miệt trong lời nói của Chúa Giêsu (người Do thái gọi dân ngoại là “chó" chứ không phải chó con). Nhưng về ý kiến này, ta có hai nhận xét:

1/ Không chắc hình thức yếu nghĩa trong Hy ngữ bình dân có giá trị như một cách làm dịu bớt;

2/ Ngôn ngữ Aram không có yếu nghĩa từ tương ứng với “chó con"; chữ Chúa Giêsu nói hẳn là chữ quen dùng để chỉ người lương dân kaloba (chó) hơn là gurâ (con thú nhỏ).

"Lòng tin của bà lớn thật": người đàn bà Canaan đã hiểu rằng Chúa Giêsu không phải là một nhà thần thông nào đó hoạt động một cách cá nhân nhưng là thừa tác viên thi hành một kế hoạch của Thiên Chúa, mà trước tiên liên hệ đến tuyển dân; và bà đã khiêm tốn nhìn nhận tuyển dân này được ưu tiên trong chương trình cứu rỗi đó. Chính việc nhìn nhận như vậy làm nên đức tin của bà.

KẾT LUẬN

Chúa Giêsu giúp bà này chẳng phải vì bà là kẻ ngoại giáo, song vì bà có một đức tin lớn lao. Trật tự cứu rỗi được tôn trọng, các giới hạn của sứ mệnh ủy thác cho Chúa Giêsu được xác định rõ ràng. Nhưng một niềm hy vọng vĩ đại đã bừng dậy. Trong niềm hy vọng đó ta thấy hiện ra một dân Israel mới được xây trên một lòng tin cũng thật lớn lao. Trường hợp viên sĩ quan trước đó cũng thế (8, 10. 13). Vì như Thiên Chúa hoàn toàn đủ sức biến các "viên đá" thành con cái cho Abraham, thì ngày kia Ngài cũng sẽ gây dựng một Israel mới lừ những kẻ có lòng tin như vậy. Ơn cứu rỗi chưa đến với lương dân; Chúa Giêsu còn trở về Israel (c. 29) để bẻ bánh cho con cái dân Người. Nhưng rải rác đó đây, trong nhiều trường hợp xác định, người ta thoáng thấy một thực tại mới, một tương lai mới trong đó Thiên Chúa sẽ hoàn tất trật tự cứu rỗi đã thiết lập ngay từ đầu. Vì ơn cứu rỗi phải đến với mọi dân trên toàn cõi trái đất.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1) Vì được rửa tội trong Giáo Hội Công giáo, vì có niềm tin, nên đôi khi ta tưởng các con "chó " ở ngoài, nghĩa là lương dân quanh ta, không có cùng quyền lợi được cứu rỗi như ta. Giai thoại người đàn bà Canaan nhắc ta nhớ Thiên Chúa không bị ràng buộc bởi các cơ cấu tôn giáo. Cũng như Chúa Giêsu đã gặp “một lòng tin lớn" ngoài Israel trong khi chính Israel lại cứng lòng tin, thì ngày nay Người cũng có thể gặp một lòng tin lớn lao như thế, nghĩa là một lòng đói khát Thiên Chúa thực sự, ở ngoài Giáo Hội. Vì thiếu mặc khải minh nhiên và thiếu ánh sáng soi dẫn, nên lòng đói khát này là một nỗi mong chờ được nuôi dưỡng bằng những vụn bánh rơi tư bàn ăn của Thiên Chúa. Những người đói khát như vậy có lẽ có, dầu họ không biết, một đức tin tinh tuyền hơn lòng tin của ta, nếu ta khinh chê lương dân thì có khác gì những người Do thái tự mãn đã không chịu khiêm tốn tin vào Chúa Giêsu, viện cớ mình là "con cái Abraham"!.

2) Thiên Chúa thường bắt đầu tỏ ra giả điếc làm ngơ trước lời cầu xin của ta, như Chúa Giêsu đối với người đàn bà xứ Canaan, nhưng là để sau đó nhậm lời nếu ta biết khiêm tốn kiên trì van vái. Chính đó là cách Ngài giáo dục ta cho có một lòng tin chân thật vậy.

3) Lời cầu xin thực sự làm đẹp lòng Thiên Chúa là lời cầu xin không ỷ lại vào một quyền lợi nào, mà chỉ hoàn toàn trông chờ vào lòng tốt của Thiên Chúa như chó con đón lấy các mảnh vụn rơi từ bàn ăn gia đình.

 

65.Ơn cứu độ đến với dân ngoại--Lm Trần Bình Trọng

Người Do Thái thời Chúa Giêsu coi tất cả những ai không có máu Do Thái là dân ngoại. Ngay cả những người có máu Do Thái, nhưng nếu bị tiêm nhiễm bởi những thói hư nết xấu của dân ngoại bang thì cũng bị coi là dân ngoại. Tuy nhiên người đàn bà xứ Canaan được coi là dân ngoại đã không sợ đến với Chúa để xin một ân huệ. Các môn đệ Chúa toan đuổi bà đi, vì bà có vẻ quấy rầy. Điều đó giúp ta hiểu cái cuộc đấu lý giữa Chúa Giêsu và người đàn bà xứ Canaan.

Có lẽ để thử đức tin của bà, ngay cả chính Chúa cũng toan đặt cản trở cho lòng tin của bà lúc ban đầu, khi bảo bà rằng sứ mệnh của Người là được sai đến với những chiên lạc nhà Israel mà thôi, nghĩa là sứ mệnh của Người không được sai đến với dân ngoại như bà.

Lúc đầu Chúa có vẻ lãnh đạm, lại còn nói những lời có vẻ chạm đến tự ái của bà như không nên lấy bánh của con cái mà cho chó con (Mt 15,26). Theo mạch văn, thì con cái đây được hiểu là dân được chọn, còn dân ngoại như bà được ví như chó con. Đó là cuộc đấu lý hay đúng hơn là cuộc chơi chữ. Và bà cũng tỏ ra tài khéo trong cách đối đáp: "Vâng. Lạy Ngài, vì chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bản chủ rơi xuống" (Mt 15,27). Lời đối đáp của bà có nghĩa là bà sẵn sàng nhận một ơn huệ nhỏ Chúa ban cũng được vậy.

Thấy bà có lòng tin vững mạnh, Chúa lên tiếng ca tụng đức tin của bà, và ban cho bà được toại nguyện, cho con gái bà được thoát khỏi quỉ ám. Chúa nói với người đàn bà ngoại giáo sứ mệnh của Người là trước hết giảng dạy và chữa lành dân riêng của Chúa. Dân Chúa có được cơ hội đầu tiên để nhận lãnh ơn cứu độ, sau đó đến lượt dân ngoại.

Bằng việc Chúa ban cho người đàn bà dân ngoại có lòng tin được hưởng ân huệ, cũng như Chúa đã mở rộng tâm hồn cho người đàn bà dân ngoại, cho viên sĩ quan dân ngoại, cho người phụ nữ dân ngoại ở giếng Gia-cóp, các môn đệ hiểu được cái sứ mệnh của Chúa bao quát hơn, rộng lớn hơn, không chỉ giới hạn về một dòng giống, một dân tộc mà thôi.

Trước những biến cố này, đức tin vào Đấng cứu độ chỉ giới hạn đến một dân tộc Chúa chọn. Cái thủ đô và trung tâm tôn giáo của họ là Jerusalem. Tuy nhiên Tiên tri Isaia nhìn thấy một Jerusalem mới, có tính cách thiêng liêng, là trung tâm của lòng xót thương của Chúa. Bài trích sách Tiên tri Isaia hôm nay ghi lại: Người ngoại bang nào muốn phụng sự Chúa và yêu mến Người, thì cũng trở nên tôi tớ của Người (Is 56,6).

Jerusalem là thành được chọn cho ơn cứu độ, nhưng ơn cứu độ không phải là độc quyền cho dân thành Jerusalem mà thôi. Cái vương quốc mà Chúa hứa cho dân riêng của Chúa bây giờ trở nên rộng lớn hơn vì Chúa Cứu Thế đã đến và bày tỏ mình ra, không những cho dân riêng mà còn cho cả dân ngoại nữa. Cái việc chuyển hướng từ cái nhìn có tính cách địa phương, cá biệt, đến cái nhìn có tính cách phổ quát nơi các tông đồ bắt đầu từ khi Thánh Phaolô rao giảng tin mừng cho dân ngoại.

Thánh Phaolô là người Do Thái, nhiệt thành theo đạo Do Thái đến độ cuồng tín. Chẳng thế mà ông đã xin trát của quan tòa để đi bách hại đạo mới là đạo Kitô giáo. Khi được ơn trở lại, Thánh Phaolô đã nhiệt thành rao giảng đạo Kitô giáo cho người Do Thái. Chỉ khi người Do Thái không chịu chấp nhận tin mừng Phúc Âm của đạo mới, thì Thánh Phaolô mới tìm đến rao giảng tin mừng Phúc Âm cho dân ngoại.

Người đàn bà xứ Canaan khẩn khoản nài xin Chúa ban cho con bà được khỏi bệnh quỉ ám. Những cử chỉ khó chịu của các tông đồ, cộng thêm thái độ hờ hững của Chúa lúc ban đầu cũng không làm nản lòng bà. Lời từ chối ban đầu của Chúa với người phụ nữ chỉ là hình thức thử thách đức tin và lòng kiên trung của bà.

Đối với đạo cũ, đạo Do Thái, ta cũng được coi là dân ngoại. Bằng việc chấp nhận đức tin vào Chúa Cứu Thế, ta được trở nên dân riêng, mới được chọn. Thiết tưởng câu chuyện Chúa thử thách đức tin của người đàn bà ngoại giáo phải dạy ta bài học về đức tin. Vậy đức tin của ta đang ở mức độ nào?

 

66.Bài học về đức tin

Đã đành đức tin là một ân ban, một tặng phẩm mà Chúa trao cho con người một cách nhưng không. Nhưng đức tin ấy có lớn mạnh và vững vàng hay không là tùy thuộc chính yếu vào con người. Hạt giống đức tin mà Chúa gieo trong tâm hồn chúng ta thì cũng rất cần sự cộng tác của ta trong việc làm cho nó lớn lên và trổ sinh hoa trái. Cũng như vàng cần được lửa thử luyện để đạt tới độ tinh khiết của vàng ròng, thì đức tin của con người cũng cần được thanh luyện qua những thử thách và gian nan trong cuộc đời này để có được đức tin chân thật và trưởng thành. Ta hãy nhớ lại hành trình đức tin của các tổ phụ chúng ta để rút ra bài học cho mình.

Câu chuyện người đàn bà Canaan ngoại giáo trong Tin mừng hôm nay để lại cho chúng ta nhiều bài học thâm thúy về một đức tin trưởng thành, mạnh mẽ và chân thật.

1. Lòng tin lớn lao và chân thật là biết kiên trì khi Chúa im lặng.

Ta không biết được nhờ đâu mà người đàn bà dân ngoại có đứa con gái bị quỷ ám biết được Đức Giêsu. Tin mừng không nói đến điều đó, nhưng có lẽ bà đã biết được Danh Đức Giêsu nhờ những lời truyền khẩu về Ngài qua những phép lạ Ngài làm. Bởi lẽ, Bà là người Canaan , thuộc Dân ngoại. Còn Đức Giêsu là người Do thái, nên ít khi Ngài đến vùng đất quê hương của bà. Nhưng khi thấy Đức Giêsu, bà tin rằng cơ may đã đến với bà. Con gái bà hoàn toàn có hy vọng được khỏi bệnh.

Với tất cả tấm lòng thành, bà đến với Đức Giêsu để xin Ngài nhìn đến nỗi đau của một bà mẹ. Bà đau vì nỗi đau của đứa con mà bà đã cưu mang và sinh hạ. Tấm lòng mẫu tử thôi thúc bà vượt qua bao nhiêu rào cản để đến với Đức Giêsu, để đặt hy vọng vào Ngài. Nhưng Đức Giêsu đã không đáp lại một lời. Một thử thách quá lớn đối với một người mới có đức tin. Rất nhiều người trong chúng ta thắc mắc: "Tại sao Chúa lại hành động như vậy? Đâu rồi hình ảnh một Thiên Chúa tình thương mà biết bao người đã ca tụng như thế?" Phải chăng Chúa Giêsu vô cảm và lạnh lùng trước nỗi đau của người khác? Phải chăng Ngài vô tâm và lãnh đạm trước những việc Ngài có thể làm được? Và chắc chắn còn rất nhiều những câu hỏi rất hợp lý được đặt ra trước thái độ im lặng của Đức Giêsu trước lời kêu xin của người đàn bà ngoại giáo này. Lắm khi, chúng ta cũng gặp sự thinh lặng nặng nề như thế. Chúng ta khắc khoải tự hỏi: "Chúa có nghe gì không? Chúa có thấy gì không?" Nhưng đức tin chân thật là biết kiên trì khi Chúa im lặng. Không kiên trì sẽ mất đức tin, mất tất cả.

2. Lòng tin lớn lao là biết kiên trì khi bị từ chối.

Người đàn bà ngoại giáo này không nản lòng trước thái độ im lặng của Chúa Giêsu. Bà đã vượt qua được một giai đoạn quan trọng để làm cho hạt giống đức tin của bà lớn lên. Dù Chúa Giêsu im lặng, người đàn bà cứ đi theo sau Ngài mà kêu xin. Bà kêu xin hoài, kêu mãi khiến các môn đệ Chúa Giêsu cảm thấy bực bội: "xin Thầy bảo bà ấy về đi". Chắc bà cũng nghe được những lời bực bội ấy của các môn đệ, nhưng bà không nản lòng và không chịu thua. Bà trực tiếp giáp mặt Chúa Giêsu và nài xin Ngài cứu giúp. Nhưng kết quả là một lời từ chối không khoan nhượng, nếu không muốn nói là làm xúc phạm đến người xin: Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó con". Bà có sốc không khi Chúa Giêsu ví Dân ngoại, ví bà với chó con nuôi trong nhà, không đáng được hưởng phần ăn của con dân Israel? Điều đáng khen và đáng mừng là bà đã không thất vọng trước lời từ chối này. Bà đã vượt qua được một giai đoạn cực kỳ quan trọng trong hành trình đức tin. Đây là một giai đoạn khó khăn vô cùng. Đã có rất nhiều người không thể vượt qua được giai đoạn này nên bỏ cuộc. Còn chúng ta thì sao? Nếu chúng ta để cho cái tôi của mình quá lớn, chúng ta sẽ có nguy cơ mất đức tin. Thực tế là đã có nhiều người bỏ đạo vì cha sở, cha phó hay ông thầy nói những lời làm họ tự ái.

3. Lòng tin lớn lao là biết khiêm tốn, khiêm hạ:

Bà mẹ này đã chấp nhận lối so sánh của Chúa Giêsu. Bà chấp nhận mình chỉ là chó con và chỉ dám trông chờ những mảnh bánh vụn rơi xuống từ bàn ăn của chủ. Bà không dám mong được ăn phần ăn của các con cái trong nhà. Sự khiêm hạ của bà đã giúp bà về đích cách thành công. Trong cuộc hành trình đức tin, sức mạnh của lòng tin nằm ở sự khiêm tốn. Với sự khiêm tốn của người đàn bà dân ngoại này, Chúa Giêsu đã ngạc nhiên về bà và khen bà là người có đức tin lớn lao. Lòng tin lớn lao của bà khiến bà: "muốn sao thì sẽ được như vậy" Xin chúc mừng bà. Bà là người đã giành được "vòng nguyệt quế" chiến thắng.

Qua hành trình đức tin gian khó của người đàn bà ngoại giáo này, chúng ta thấy được rằng: tin thật sự không phải là đòi hỏi Chúa làm điều này điều nọ cho chúng ta, nhưng là chờ đợi tất cả từ tay Chúa và đón nhận tất cả như quà tặng tình yêu của Chúa. Tất cả là hồng ân, là tình thương của Chúa.

Sứ mạng của Chúa Giêsu là làm theo ý của Chúa Cha. "Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Israel mà thôi". Nhưng Chúa Giêsu không cứng nhắc trong nguyên tắc. Ngài tin rằng: Cha vẫn ở với Ngài và nói với Ngài qua những hoàn cảnh khác nhau, nên Ngài đã để cho trái tim của Ngài được tự do vươn rộng ra. Ngài tin rằng điều Ngài sắp làm cho người đàn bà có lòng tin mạnh mẽ là hợp với thánh ý của Chúa Cha. Chúa Giêsu là hiện thân của Thiên Chúa tình yêu, đã rất trung thành và uyển chuyển để có thể nắm bắt được thánh ý của Chúa Cha vừa hé lộ cho Ngài.

Ước gì chúng ta luôn có được lòng tin sắt đá vào Thiên Chúa qua từng ngày sống của chúng ta. Chúng ta cũng cầu xin Chúa cho chúng ta biết để Chúa Cha dẫn chúng ta đi từng ngày và mở lòng chúng ta ra với những chân trời mới của lòng tin yêu và phó thác.

 

home Mục lục Lưu trữ