Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 35

Tổng truy cập: 2246365

LẠY THẦY XIN THÊM LÒNG TIN CHO CHÚNG CON

LẠY THẦY XIN THÊM LÒNG TIN CHO CHÚNG CON

 

Lm. Anmai, DCCT

Liệu người ta có sống được không khi không có lòng tin? Câu trả lời dường như quá dễ dàng, người ta chết vì thiếu cơm thiếu gạo, thiếu chất dinh dưỡng hay thuốc men chứ có ai chết vì thiếu lòng tin!

Nhưng cứ thử hình dung, một đứa trẻ nếu không có lòng tin vào tình thương, vào trách nhiệm của cha mẹ mình thì dù có ăn ngon mặc đẹp, được hưởng thụ mọi tiện nghi, thậm chí được học hành thì đứa trẻ ấy cũng chẳng bao giờ được sung sướng. Nếu sống như vậy nó chỉ là một đứa trẻ vất vưởng mồ côi, có lẽ trong số những trẻ bỏ nhà đi bụi đời nhiều em đã mang theo cõi lòng tan hoang như thế. Bình thường, ra khỏi cái thế giới của gia đình, một thiếu niên có thêm lòng tin mới, tin vào thầy cô bạn bè, nhà trường. Chúng đau khổ khi bị bạn bè chơi xấu, và đâu đó nhà trường đã biến thành thị trường, người dạy không vì chúng mà vì túi tiền của cha mẹ chúng nên chúng đã hỗn láo, hư hỏng hoặc lớn lên ra trường đi làm, chúng tìm mọi cách để tận thu lại với đời.

Vợ chồng mà không tin nhau thì dù nhà cao cửa rộng, chăn êm nệm ấm thì cũng chỉ là một sự "liên hiệp", và những cuộc hành lạc hợp pháp. Không niềm tin thì không thể có tình yêu, còn hạnh phúc càng là chuyện hoang tưởng.

Một cuộc sống thiếu lòng tin thì đó không phải là cuộc sống...

Chẳng hiểu làm sao mà ngày hôm nay con người sống trong một thế giới thiếu vắng lòng tin để rồi từ thiếu vắng lòng tin nó đã gây ra cho con người biết bao nhiêu là xáo trộn, biết bao nhiêu à bất an. Ngày hôm nay người ta phải đối diện với quá nhiều sự giả trá, sự gian tà để rồi không còn tin vào nhau như xưa nữa.

Nhan nhản, sách báo, tivi, các chương trình truyền thông đại chúng cho chúng ta thấy một cuộc đời thật ê chề, thật chán chường. Tất cả chỉ là những lời hứa hão huyền, những lời hứa cuội. Mới đây thôi, tuần qua, một sự kiện đáng nhớ của người dân Sài Gòn: cơn mưa chiều ngày 1 tháng 8 đã biến Sài Gòn thành một dòng sông. Do đâu? Do người ta hứa hẹn, người ta thiếu trách nhiệm để ma lo cho dân. Ngân sách rót ra cho chuyện sửa chữa cầu cống, ngập lụt đổ ra bạc tỷ, tiền ấy gom góp từ mồ hôi nước mắt của dân, vậy mà sau những trận mưa thì người dân hoàn toàn chịu trận. Chịu riết rồi chẳng còn ai tin vào lời hứa là sẽ lo cho dân, sẽ phục vụ dân nữa. Một lần, hai lần, ba lần người ta còn cố gắng chờ đợi để mà tin nhưng nhiều lần quá chẳng ai còn can đảm để mà tin.

Ngoài đường là như vậy, còn trong nhà thì sao? Trong nhà hình như cũng nhuốm một cái màu đen tối của sự mất niềm tin vào nhau. Ai cũng sợ sống sự thật, đối diện với sự thật để rồi người ta không còn đến với nhau thật lòng nữa. Chắc có lẽ từ cái lối sống "làm láo báo cáo hay" nó nhen nhúm vào trong con người ta khi nào mà người ta không hay để rồi ai cũng báo cáo, cũng "nổ" cũng tô son trát phấn về mình. Vì sao? Vì sợ người đối diện biết cái bộ mặt thật của mình nên người ta phải làm như vậy. Và khi làm như vậy đến một lúc nào đó cũng xuất đầu lộ diện thì thử hỏi còn ai dám tin vào nhau nữa?

Cay đắng, bi đát ở chỗ là con người, ai ai cũng thấy và cần sống với những người có niềm tin vào nhau nhưng rồi người ta cư xử với nhau làm sao đấy. Cứ thật thật giả giả lẫn lộn để rồi đi tìm một lòng tin nguyên vẹn hơi bị hiếm.

Đứng trước vấn nạn của lòng tin, chúng ta có lòng tin như thế nào với người xung quanh và người xung quanh chúng ta có tin chúng ta hay không? Cách riêng, người kitô hữu, người có Chúa thì sống lòng tin như thế nào?

Bài tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy rõ về lòng tin. Phêrô, là người đã từng theo Thầy mình đi rao giảng nhưng đụng chuyện Phêrô cũng chưa tin vào Chúa, vẫn ngờ vực Chúa. Qua thái độ ngờ vực của Phêrô, Chúa Giêsu đã thẳng thắn trách móc ông. Chúng ta nhìn lại đời mình, chúng ta theo Chúa nhiều năm lắm, có người hai chục, có người ba chục, có người bốn chục... được Chúa yêu thương nhiều, được Chúa ủ ấp nhiều nhưng hình như chúng ta vẫn mang trong mình thái độ ngờ vực như Phêrô thì phải. Thế nhưng chuyện hay nơi Phêrô là sau bao nhiêu lần ngã lên vấp xuống nhưng cuối cùng Phêrô đã tin và sống chết với Thầy. Còn chúng ta, chúng ta sẽ sống sao với Thầy của chúng ta?

Ngày hôm nay, cơ hội để chúng ta đặt lại niềm tin của chúng ta vào Chúa. Chúng ta đã theo Chúa nhiều năm nhưng hiện giờ lòng tin của chúng ta vào Chúa như thế nào? Chúng ta tin vào người đời hay tin vào Thiên Chúa.

Chúa vẫn nhắc nhở chúng ta trong các thánh vịnh:

Ẩn thân bên cạnh Chúa Trời

Thì hơn tin cậy ở người trần gian

Tin vào thần thế vua quan

chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời (Tv 117, 8.9)

Cuộc đời mỗi người chúng ta vẫn bị giằng co, vẫn đứng giữa cái ngã ba đường là dựa vào Chúa hay dựa vào thần thế vua quan, tin vào Chúa hay tin vào của cải vật chất? Đây không phải là chuyện đơn giản mà là chuyện chúng ta phải đối diện mỗi ngày trong cuộc sống thường nhật.

Nhìn lại cuộc đời mỗi người chúng ta, nhìn lại tất cả các biến cố lớn bé từ khi cất tiếng khóc chào đời đến ngày hôm nay chúng ta thử hỏi xem ai đã quan phòng cho cuộc đời chúng ta? Ai yêu thương chúng ta? Ai là thành luỹ đời chúng ta? Ai là cùng đích đời chúng ta? Vậy mà chúng ta đã không dựa vào tình yêu, vào đấng quan phòng, vào thành luỹ, vào Chúa của đời chúng ta mà chúng ta cứ quanh quẩn mãi trong cái thế giới vật chất, trong cái thế giới mau qua chóng tàn này.

Tuần trước, khi đang giúp cho một đôi hôn phối do một cha trong Dòng nhờ bỗng dưng cô bé nói với tôi rằng: "Mẹ bạn trai con đi coi thầy rồi, phải là trong tháng 10 này phải cưới vì tuổi của con và tuổi của anh ấy chỉ cưới trong tháng 10. Nếu không thì chúng con phải đợi đến 3, 4 năm nữa mới cưới được!".

Tôi nghe xong tôi ngạc nhiên vì tôi biết rằng hai bên đều là đạo gốc, được học hành giáo lý nghiêm túc ở một giáo xứ lớn hẳn hoi mà nói với tôi như thế! Hoá ra là mẹ của chú rễ dù là người có đạo nhưng hình như chẳng còn tin vào Chúa mà tin vào ông thầy bói. Tôi bèn nói với hai bạn trẻ rằng tôi cảm ơn mẹ của chú rễ. Và, nếu được xin kính mời bà mẹ của chú rễ đến đây, dẫn tôi đến với ông thầy bói nào đó đã coi cho hai bạn. Tôi nói rằng:

Thứ nhất: tại sao ông thầy bói coi cho hai bạn được mà sao không coi tương lai cho ông như thế nào? Tại sao ông phải đi lượm bạc cắc từ những người nhẹ dạ và thiếu lòng tin vào Chúa? Nếu giỏi, sao ông không coi chiều nay xổ số ra số mấy để ông mua nguyên tập vé số để có nhà lầu xe hơi mà phải đi coi bói thế này?

Thứ hai: nếu được nhờ ông coi xem tương lai tôi có làm giám mục hay không? Nếu tôi làm giám mục tôi mời ông về ở trong "Toà" với tôi? Làm gì mà ông coi được? Ngay cái bản thân của ông ông không biết ông sống ngày nào, chết ngày nào sao mà coi được cho ai?

Và còn nữa về chuyện thiếu lòng tin vào nhau, thiếu lòng tin vào Chúa nên đến với bói toán. Nhất là các cô các chị. Đôi khi chồng mình mệt mỏi hay có vấn đề gì không chịu hỏi, chạy tới hỏi ông thầy bói và khi mở bài lên con đầm bích. Ông phán ngay cho một câu là chồng chị có một người nước da ngăm ngăm theo đuổi! Thế là về nhà mặt nặng mày nề với ông chồng mà không chịu hỏi thực hư!

Thời buổi ngày hôm nay người ta thường nói đùa với nhau là "lên cung trăng" rồi mà người ta còn tin vào bói toán. Thật ra số người tin vào bói toán ngày nay còn nhiều chứ không phải là ít, cách riêng là nữ giới. Vì nhẹ dạ, vì thiếu lòng tin và nhất là thiếu lòng tin vào Thiên Chúa nên họ dựa vào bói toán là điều dễ hiểu. Lẽ ra trong những cơn gian nan thử thách của cuộc đời họ tìm đến Chúa, họ cậy vào Chúa nhưng không, họ đã tìm đến những con người tầm thường của thế gian.

Và như đã nói ở trên, cuối đời Phêrô hối hận về tất cả những gì mình làm buồn phiền Thầy mình nên Ngài đã làm lại tất cả những gì có thể được để minh chứng cho tình yêu của Ngài đối với Thầy Chí Thánh. Và với lời nguyện xin quen thuộc của Ngài khi Chúa Giêsu hiện ra sau khi Phục Sinh với mẻ cá lạ, mỗi người chúng ta trong từng phút từng giây của cuộc đời cũng biết thưa như Phêrô: "Lạy Ngài ơi thương đến! Xin củng cố giúp con! Này lòng tin con đây còn mỏng dòn non yếu! "Lạy Ngài ơi thương đến! Xin củng cố giúp con! Này lòng tin con đây hầu đã vỡ tan rồi" (bài Con tin thưa Thầy - linh mục Thành Tâm)

Khi và chỉ khi ta đặt niềm tin của ta vào Chúa như Phêrô thì cuộc đời ta mới bình an giữa muôn sóng sóng gió của cuộc đời này được.

Nguyện xin Chúa là nguồn mạch của sự sống, nguồn mạch tình yêu, nguồn mạch của lòng tin đến và ở lại trên cuộc đời của mỗi người chúng ta để chúng ta luôn trao phó cuộc đời của chúng ta vào trong bàn tay của Chúa trong bất cứ hoàn cảnh nào, môi trường nào mà chúng ta đang sống.

 

26.Chính là Ta! Đừng sợ!--Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

Như Marcô và Gioan, Matthêô đặt trình thuật “Chúa Giêsu đi trên mặt nước” nầy (14,22-32) ngay sau trình thuật về bánh cá hoá nhiều nuôi năm ngàn người. Cả hai trình thuật đều nhằm trả lời những thắc mắc của dân làng Nazaréth (13,54-56), Hêrôđê (14,2), và cả môn đệ (8,27) về căn tính của Chúa Giêsu đã được nêu ra trước đó. Trong câu chuyện bánh cá hoá nhiều, Chúa Giêsu tỏ mình ra cho dân chúng như vị mục tử được Thiên Chúa sai đến để nuôi sống họ. Phần các môn đệ, họ chưa nhận ra Ngài là ai (x. 16,9-10). Trong trình thuật nầy, Chúa Giêsu sẽ tỏ mình vinh quang cho họ qua biến cố trên mặt biển, và chính họ sẽ tuyên xưng Ngài là Con Thiên Chúa.

Bối cảnh không gian của câu chuyện được xác định là từ lúc Chúa Giêsu buộc các môn đệ lên thuyền, eis to ploiton (c. 22) và kết thúc là lúc Phêrô đã trở lại trong thuyền; và lúc nầy tất cả các môn đệ đều tuyên xưng Ngài là “Con Thiên Chúa”, eis ton ploiton (c. 32). Cụm từ nầy đóng khung câu chuyện. Hơn nữa, hạn từ eutheōs/euthus xuất hiện ba lần (cc. 22, 27 và 32) và đánh dấu các hành động quyết định của Chúa Giêsu ở khởi đầu, đoạn giữa và kết thúc của câu chuyện. Hạn từ nầy giúp phân đoạn bố cục của câu chuyện như sau: Dẫn nhập (cc. 22-23); Chúa Giêsu với các môn đệ (cc. 24-27); Chúa Giêsu với Phêrô (cc. 28-32); Kết luận (c. 33).

Chủ đề của đoạn 14,22-32 liên quan đến việc tuyên xưng Chúa Giêsu. Matthêô trình bày theo cách tiệm tiến việc các môn đệ nhận biết Ngài: “ma”, phantasma (c. 26), “Chúa”, kyrie (c. 28), và cao điểm là “Con Thiên Chúa”, Theou uios ei (c. 33). Bên cạnh việc tuyên xưng nầy, Chúa Giêsu còn tự mạc khải “Thầy đây”, egō emi (c. 27).

Dẫn nhập (cc. 22-23)

Các môn đệ đã có mặt với Chúa Giêsu vào buổi chiều ngày Ngài làm phép lạ bánh cá hoá nhiều nuôi năm ngàn người ăn (14,15). Họ đã chứng kiến phép lạ mà họ không nghĩ đến. Họ đã muốn Chúa Giêsu giải tán dân chúng (14,15), nhưng Chúa Giêsu chỉ làm theo đề nghị của họ sau khi chính Ngài đã cho họ ăn thỏa thuê (c. 22). Ngài đã tự tỏ mình ra cho dân chúng như là vị mục tử tốt lành nuôi sống đàn chiên. Bây giờ Ngài muốn tỏ mình ra cho các môn đệ.

Matthêô không đề cập điểm đến “Bethsaiđa” thuyền của các môn đệ như trong Marcô (Mc 6,45). Thật ra, câu chuyện sẽ không diễn ra ở bờ bên kia, mà trên đường đến bờ bên kia. Matthêô nhấn mạnh là Chúa Giêsu “cầu nguyện riêng một mình trên núi”, kat’ idian proseuzasthai (c. 23) và sau đó Ngài đến với các môn đệ; trong khi Marcô lại trình bày Chúa Giêsu “một mình trên núi” và nhìn xuống Ngài thấy thuyền các môn đệ đang ra giữa dòng và gặp gió bão (x. Mc 6,47), và Ngài đi xuống và đến với họ. Như thế, cụm từ kat’idian, “riêng” như thánh sử đã dùng trong nhiều trường hợp khác (x. 14,13; 17,1; 20,17; 24,3), cho biết trước là Chúa Giêsu sắp sửa mạc khải một điều quan trọng liên quan đến bản thân Ngài.

Hai phần cc. 24-27 và cc. 28-32 nằm trong khung cảnh là thuyền đang gặp sóng gió và Chúa Giêsu đến với họ. Câu chuyện bắt đầu từ khi sóng gió nổi lên (c. 24) và chấm dứt khi sóng gió yên lặng (c. 32). Hạn từ “gió”, anemos (cc. 24 và 32) đóng khung phần chính nầy.

Chúa Giêsu với các môn đệ (cc. 24-27)

So sánh với đoạn song song trong tin mừng Marcô (Mc 6,45-52), chúng ta thấy có nhiều điểm khác biệt. Trước tiên Matthêô nhấn mạnh bằng cách đặt đầu câu là “chiếc thuyền” bị lắc lư, to de ploion (c. 24); trong khi Marcô kể là chính “các môn đệ”, autous (Mc 6,48); tiếp đến là Matthêô bỏ yếu tố “Chúa Giêsu thấy” như trong Marcô, thay vào đó, Matthêô ghi nhận là các “môn đệ thấy” Chúa Giêsu đến với họ (c. 26). Sau cùng Matthêô thêm vào yếu tố (lắc lư) “bởi sóng”.

Trong các câu 24-27 Matthêô cho thấy sự tuơng phản trong thái độ và lời nói của Chúa Giêsu và các môn đệ. Trước tiên thánh sử trình bày cảnh con thuyền trước sóng gió trên biển. Sóng làm lắc lư con thuyền trên đó có các môn đệ. Động từ basanizō, chỉ được dùng 3 lần trong Matthêô diễn tả sự hành hạ trên con người do bệnh tật (8,6), trên ma quỉ do việc Con Thiên Chúa đến (8,29), và trên chiếc thuyền do sóng gió (14,24). Việc các môn đệ đặt câu hỏi về căn tính của Chúa Giêsu sau khi ngài làm cho sóng gió yên lặng (8,27) cho thấy biển cả biểu tượng cho một quyền lực hỗn mang mà con người không thể làm chủ được. Các môn đệ trên thuyền cũng bị lắc lư bởi các đợt sóng. Trong khi đó, Chúa Giêsu “đi trên mặt biển” mà đến với họ. Cách diễn tả nầy có nghĩa là Ngài làm cho biển cả tùng phục Ngài và Ngài thống trị được nó (x. Tv 77,20; Gióp 9,8; Is 43,16; Xh 14,10-15,21; Tv 107,23-32; Khôn ngoan 14,2–4).

Tiếp đến, Matthêô mô tả các phản ứng tinh thần của các môn đệ (c. 26). Trước tiên họ kinh hãi, tarassō, khi nhìn thấy Chúa Giêsu. Từ phantasma, chỉ xuất hiện nơi đây và có nghĩa là “sự hiện ra”, “ma”. Vua Hêrôđê cũng kinh hãi tương tự khi nghe tin vua dân do thái mới sinh ra (2,3). Như thế, cả hai đều có một phản ứng giống nhau trước sự xuất hiện của Chúa Giêsu Kitô. Phản ứng tiếp theo là sợ hãi, phobos (c. 26). Đây cũng là phản ứng trước các cuộc thần hiện (28,4.8).

Phần Chúa Giêsu (c. 27), Ngài củng cố các môn đệ bằng lời mạc khải về chính mình. Động từ thapseō, “vững lòng” được dùng chỉ ba lần, và trong hai lần khác được dùng vào cuối trình thuật chữa lành bệnh tật (9,2.22). Có thể nghĩ là Chúa Giêsu chữa lành các môn đệ khỏi sự kinh hãi trước sựđe dọa của sóng gió. Cụm từegō emi, “Thầy đây”, vừa là một khẳng định đối nghịch với phantasma, “ma”, vừa mang tính mạc khải về căn tính của Ngài. Ngài là Đấng hiện hữu (Xh 3:14; Is 41,4; 43,10; 47,8). Sau cùng là “đừng sợ!” Cụm từ nầy được Matthêô dùng hầu như chỉ trong bối cảnh của cuộc thần hiện (17,7; 28,5.10). Vậy, việc Chúa Giêsu đi trên mặt nước đến với các môn đệ là một biểu lộ vinh quang và căn tính của Ngài cho họ.

Chúa Giêsu với Phêrô (cc. 28-32)

Phần nầy là riêng của Matthêô. Thánh sử trình bày câu chuyện của Phêrô như là sự tiếp nối câu chuyện của các môn đệđểđi một mạc khải rõ hơn về căn tính của Chúa Giêsu. Thánh sử dựa trên kết cấu của phần trước và liên kết với nó qua cách diễn tả và lập lại từ vựng.

Trong phần trước, các môn đệ nói Chúa Giêsu là “ma”; ở đây Phêrô đặt câu điều kiện “Nếu là Thầy” (c. 28) dựa trên khẳng định “Thầy đây” (c. 27), nghĩa là Phêrô đã được khai sáng. Tiếp đến, Phêrô muốn kiểm chứng giả thiết của mình bằng đòi hỏi một phép lạ, được đi trên mặt nước như Chúa Giêsu (cc. 28.29). Sau cùng, thay vì “gió ngược” làm con thuyền lắc lư, và việc thấy Chúa làm các môn đệ sợ hãi (cc. 24.26), ở đây “gió mạnh” mà Phêrô thấy làm cho ông sợ hãi (c. 30). Lần nữa, tương tự như trường hợp của các môn đệ, Matthêô đặt một mạc khải về Chúa Giêsu vào lúc Phêrô sợ hãi: “Lạy Chúa, xin cứu con”. Thánh sử đã dùng cách diễn tả như một số nơi khác trong tin mừng: động từ “thấy” + động từ “sợ hãi” và lời tuyên xưng về Chúa Giêsu (x. 9,8; 14,30; 27,54). Phêrô không chỉ tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa, kyrie, mà cả Đấng có thể cứu vớt ông (1,21; 8,5).

Từ oligospistoi gồm oligos + pistis nghĩa là “ít + lòng tin”, “ít + tin tưởng”. Khác với 8,26, lời khiển trách nầy nhắm thẳng vào Phêrô. Sự thiếu tin tưởng nầy trước tiên bởi ông đặt một câu điều kiện với Chúa Giêsu “Nếu là Thầy”, và tiếp đến làông xin đến với Chúa Giêsu mà không nhìn vào Chúa, mà nhìn vào gió. Lòng ít tin tưởng nầy được làm mạnh thêm bởi câu hỏi “tại sao lại nghi ngờ”, distazō. Tuy được cho biết đó là Chúa rồi nhưng lòng nghi ngờ vẫn còn (x. 28,17).

Kết luận (c. 33)

Trình thuật kết thúc với cảnh các môn đệ quỳ gối thờ lạy Chúa Giêsu và tuyên xưng “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa” (c. 33). Thánh sử muốn tập trung vào Chúa Giêsu hơn là các môn đệ. Cao điểm của trình thuật chính là hành động “quỳ gối” và lời tuyên xưng “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa”.

Chúa Giêsu, Đấng đã làm cho bánh cá hoá nhiều nuôi năm ngàn người cũng là Đấng đi trên mặt biển và cứu Phêrô khỏi chìm xuống nước. Ngài chính là Con Thiên Chúa, được sai đến trần gian để nuôi sống và cứu độ con người.

 

27.Giá của một ly sữa--Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Hình ảnh Chúa Giêsu đi trên mặt nước cho chúng ta thấy tình thương của Chúa dành cho các môn đệ thật cao sâu. Dù đêm tối. Dù giông bão. Điều đó không cản bước để Ngài tiến đến với các môn đệ. Ngài đã đến thật đúng lúc, thật kịp thời. Ngài đến để phá tan giông bão. Ngài đến trả lại sự bình yên cho biển cả và cho cả các tông đồ đang hú hồn bạc vía!

Cuộc sống là bước đi trên biển đời. Có sóng gió. Có giông tố. Có những khó khăn khiến biết bao người chao đảo. Họ đang cần chúng ta làm điều gì đó để cứu giúp họ. Hằng ngày có biết bao bàn tay đang xòe ra cầu cứu chúng ta. Liệu rằng chúng ta có dám thoát ra khỏi sự bình yên của mình để đến với anh em và giúp họ vượt qua khó khăn hay không?

Có thể chúng ta nghĩ mình sẽ chẳng làm được những chuyện phi thường như Chúa Giêsu, điều này cũng chẳng sai, nhưng chúng ta lại có thể làm những chuyện bình thường với trái tim phi thường hết mình vì tha nhân. Những chuyện bình thường thật dễ làm nhưng lại đòi hỏi phải có tình yêu mới có thể tìm được hạnh phúc trong từng điều nhỏ nhặt bình thường.

Người ta kể rằng: Trưa hôm đó, có một cậu bé nghèo bán hàng rong ở các khu nhà để kiếm tiền đi học. Bụng đói cồn cào mà lục túi chỉ còn mấy đồng tiền ít ỏi, cậu liều xin một bữa ăn tại một căn nhà gần đó. Nhưng cậu giật mình xấu hổ khi thấy một cô bé ra mở cửa. Và thay vì xin gì đó để ăn, cậu đành xin một ly nước uống. Cô bé trông cậu có vẻ đang đói nên bưng ra một ly sữa lớn.

Cậu bé uống xong, hỏi "Tôi nợ bạn bao nhiêu?".

"Bạn không nợ tôi bao nhiêu cả. Mẹ dạy rằng chúng tôi không bao giờ nhận tiền khi làm một điều tốt."

Cậu bé cám ơn và đi khỏi. Lúc này, Howard Kelly thấy tự tin hơn nhiều, mạnh mẽ hơn nhiều.

Nhiều năm sau, cô gái đó bị căn bệnh hiểm nghèo. Các bác sĩ trong vùng bó tay và chuyển cô lên bệnh viện trung tâm thành phố để các chuyên gia chữa trị. Tiến sĩ Howard Kelly được mời khám. Khi nghe tên địa chỉ của bệnh nhân, một tia sáng loé lên trong mắt ông. Ông đứng bật dậy và đi đến phòng bệnh nhân và nhận ra cô bé ngày nào ngay lập tức. Ông đã gắng sức cứu được cô gái này. Sau thời gian dài, căn bệnh của cô gái cũng qua khỏi. Trước khi tờ hoá đơn thanh toán viện phí được chuyển đến cô gái, ông đã viết gì đó lên bên cạnh.

Cô gái lo sợ không dám mở ra, bởi vì cô chắc chắn rằng cho đến hết đời thì cô cũng khó mà thanh toán hết số tiền này.

Cuối cùng cô can đảm nhìn, và chú ý đến dòng chữ bên cạnh tờ hoá đơn....

"Đã thanh toán đủ bằng một ly sữa."

Ký tên

Tiến sĩ Howard Kelly.Nước mắt vui mừng cứ thế dâng trào và lời từ trái tim cô gái thốt lên trong nước mắt: "Cảm ơn ông!."

Đây là câu chuyện có thật. Dr. Howard Kelly là một nhà vât lý lỗi lạc, đã sáng lập ra Khoa Ung thư tại trường Đại học John Hopkins năm 1895.

Cuộc sống luôn mời gọi chúng ta hãy làm điều gì đó có ích cho tha nhân. Bởi chung quanh chúng ta có biết bao mảnh đời bất hạnh lầm than. Cuộc sống luôn đưa đến cho chúng ta biết bao bàn tay đang cần chúng ta dìu họ đi qua những khó khăn, hay giúp họ đứng dạy bước tiếp sau những lần vấp ngã. Việc làm này tưởng chừng như chỉ là một việc tốt nhỏ bé rồi sẽ trôi qua, nhưng thực ra nó sẽ được đền bù khi chúng ta gặp khó khăn. Đó là trường hợp của cô gái đã tặng người bạn nghèo một ly sữa để làm động lực cho câu ta tiến thân và thành danh mai sau.

Vâng, chúng ta có thể không có khả năng đi trên mặt nước, nhưng chúng ta có thể nâng đỡ, dìu dắt anh em qua những khó khăn của cuộc sống. Vì cuộc sống chung quanh chúng ta có quá nhiều những hoàn cảnh đang cần chúng ta thi ân giúp sức.

Chúng ta có thể không có khả năng hô phong hoán vũ nhưng chúng ta có thể xoa dịu những đau thương cho anh em bằng sự chia sẻ, bằng cảm thông liên đới.

Chúng ta có thể không có khả năng ngăn gió chống bão nhưng chúng ta có thể giúp anh em làm lại cuộc đời sau những thất bại làm ăn.

Vâng, chúng ta không cần phải làm những chuyện cao siêu, chỉ cần cho một ai đó ly nước với một tấm lòng chân thành là được. Cuộc sống của chúng ta chỉ cần có tấm lòng như dẫn người già qua đường, nhịn chút quà sáng để cho các em học sinh khó khăn, biết an ủi động viên người đang đau bệnh hay thất bại, tủi hờn... Đó là những việc chúng ta đang làm cho cuộc sống này tốt đẹp hơn.

Cuộc đời ai mà không cần sự nâng đỡ, bao bọc của người khác. Thật không ngoa khi nói rằng chúng ta đều lớn lên trong tình thương giúp đỡ của người khác cụ thể là cha mẹ, là thầy cô, bạn bè... Thế nên, hãy sống có ích cho tha nhân. Hãy làm điều gì đó tốt đẹp cho tha nhân. Hãy đến với tha nhân để xoa dịu nỗi đau cho họ, để dìu họ đi qua những khổ đau, để giúp họ đứng dậy làm lại cuộc đời.

Xin Chúa cho chúng ta có đôi chân nhẹ nhàng, thanh thoát để đến với tha nhân trong tinh thần phục vụ mà không mong đền đáp. Amen.

 

home Mục lục Lưu trữ