Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 43

Tổng truy cập: 1963844

ĐỨC GIÊSU: MỤC TỬ NHÂN LÀNH VÀ CỬA CHUỒNG CHIÊN

ĐỨC GIÊSU: MỤC TỬ NHÂN LÀNH VÀ CỬA CHUỒNG CHIÊN

 

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

 

1) Đức Giêsu, mục tử nhân lành.

Bài Phúc âm hôm nay nằm trong văn mạch của một cuộc luận chiến tiếp sau việc chữa lành người mù bẩm sinh vẫn ngồi ăn xin bên cửa đền thờ, (Phúc Âm Chúa nhật thứ bốn mùa chay, năm A) những người biệt phái tự xưng là sáng mắt và tự nhận là những bậc linh sư trong dân, thực ra, ngày càng chìm sâu trong sự mù quáng của mình, trong khi đó, người mù được chữa lành, không ngừng được khai sáng đến độ dám tuyên xưng mầu nhiệm Đức Giêsu, nhìn nhận Ngài là "Con Người" và là "Đấng Thiên sai bị người do thái trục xuất khỏi hội đồng và được Đức Giêsu đón nhân, ông trở thành mẫu mực của người có niềm tin, điển hình của con chiên nhận ra Người mục tử để được dẫn về cùng Chúa Cha (X. Dufour, "Đọc Tin Mừng Gioan " Tập 2, Seuil, 1990, tr. 348)." Đức Giêsu kết luận” ta đến trần gian chỉ là để cho những kẻ không thấy được thấy là những kẻ thấy trở nên đui mù" Thế rồi, tác giả Tin Mừng chuyển thẳng sang dụ ngôn vị mục tử nhân lành, một hình ảnh quen thân trong Kinh Thánh. Thật vậy, trong suốt lịch sử Do thái, Thiên Chúa luôn tự giới thiệu như là vị Mục Tử của dân người, Đấng đã chọn lấy cho mình những tôi tớ, cũng được gọi là “mục tử ", để trao cho họ trách nhiệm dẫn dắt dân Chúa theo người. Tiếc thay họ thường bất xứng với sứ vụ này và vậy các tiên tri đã loan báo một thời đại mà chính Thiên-Chúa, qua Đấng Thiên Sai, sẽ nắm quyền lãnh đạo dân người.

Ở đây Đức Giêsu tự giới thiệu mình là vị Mục Tử nhân lành, vị Mục Tử thiên sai, người gọi "tên từng con chiên một và "dẫn chúng đi ăn”! khác hẳn những tên trộm đạo đến trấn lột đoàn chiên hay những kẻ chăn thuê không bao giờ dám mạo hiểm vì đoàn Chiên. Nên đặc biệt chú ý đến kiểu nói này vì trong Thánh kinh, nó gợi lên: cuộc xuất hành đầu tiên, khi Chúa “dẫn đưa” Israel ra khỏi nhà nô lệ. (Ex 3.10; 6, 27; Lev. 19,36)

Lời cầu nguyện của Môsê, xin Chúa chọn người kế vị mình "một người sẽ lãnh đạo cộng đoàn,..sẽ đưa chúng ra đi và dẫn chúng trở về để chúng không trở thành những con chiên không người chăn giữ" (Nom. 27, 17)

Cuộc xuất hành mới là quyết định được các tiên loan báo “ta sẽ đưa đoàn chiên ta ra khỏi muôn dân, sẽ qui tụ chúng lại từ muôn nước và đưa chúng về cố hương" (Ez.34,l3)

Thành toàn những lời tiên tri trong Cựu Ước, Đức Giêsu là Mô-sê mới đến qui tụ đoàn dân mới của Thiên- Chúa và "dẫn đầu ","đưa họ ra đi" trong cuộc xuất hành mới, trên đường về miền đất hứa.

Đức Giêsu dùng dụ ngôn này để nói vớí người “biệt phái" là những người, theo tác giả Tin Mừng, không hiểu được điều Ngài muốn nói với họ” khiến Ngài phải đề cập đến một chủ đề mới, đó là cửa chuồng chiên.

2) Đức Giêsu là cửa chuồng chiên

"Cửa chuồng chiên" khi nói thế, Đức Giêsu muốn minh định mình là lối vào duy nhất để gặp được đoàn chiên. “để đến với đoàn chiên, hình ảnh của dân Thiên-Chúa, phải đi qua Đức Giêsu. Ngoài ngài ra, không còn cách nào để đến với dân Chúa và với sự sống. " A. Marchadour, "Tin Mừng theo thánh Gioan", Centturion, 1992,p.143).

“Cửa chuồng chiên" khi nói thế, Đức Giêsu minh ảnh mình là cửa mà mọi con chiên phải đi qua nếu muốn được tự do và đạt được sự sống viên mãn. A. Machadour viết tiếp ngoài Ngài ra, không ai có thế tự xưng là người mang ơn cứu độ cho nhân loại được. Đức Giêsu là cửa vì qua Ngài, con người đạt được ơn cứu độ và được sống, khung cảnh đền thờ cho phép ta lấy đơn vị (cửa) để cắt nghĩa tổng thể (đền thờ) Đức Giêsu tự giới thiệu mình như đền thờ mới trong đó con người tìm được tự do và sự sống".

BÀI ĐỌC THÊM

1) Chúa là mục tử của tôi. (H. Denis, trong "100 từ ngữ để nói lên niềm tin". Desclée de Brouwer,1993, p.149-l50)

Chúa Mục tử, Chúa là Đấng mà với Ngài, trong cảnh nghèo khó cùng cực, người ta có thể cảm nghiệm và hiểu biết được sự phong phú của Thiên Chúa, đây chính là niềm ủi an mới của mùa phục sinh này, các bạn đã là những con chiên lạc, nhưng giữa các bạn, Con Chiên không tì vết đã hiến mình, và hóa thân thành mục tử, thành người chăn giữ mạng sống quí giá của các bạn.

Mục tử, một từ dân dã, một nghề gần như đã mai một còn chăng chỉ có những du khách lâu lâu gặp thấy những người chăn cừu vùng sơn cước. Tuy nhiên chúng ta còn nhạy cảm với hình ảnh của người mục tử với chiếc tù và đang tập họp đoàn chiên, hơn thế nữa, người ta còn xúc động khám phá ra tấm lòng của Thiên Chúa, khi nhìn thấy người mục tử mệt lả vác con chiên lạc trên khi đưa trở về bầy.

Đức Giêsu chính là người muốn qui tụ về đàn chiên duy nhất của Ngài toàn cá nhân loại được thánh tẩy trong máu con Chiên, điều đó khiến ta khiêm tốn. Tôi muốn nói rằng Đức Giêsu không bao giờ quả quyết Ngài, chỉ là mục tử của các tín hữu, và chuồng chiên của Ngài chỉ gồm các Hội thánh công giáo. Trong Tin Mừng của Thánh Gioan. Ngài tự giới thiệu mình như là Đấng đưa dẫn mọi người thiện chí về đồng cỏ xanh, là đấng mà mọi người đều có thể nhận ra tiếng Ngài.

Các linh mục hay các mục tử không thể trở thành sở hữu chủ của những người mà họ phục vụ được. Vì thế, từ mọi đồng cỏ, mọi tôn giáo, mọi nền văn hóa đều có thể hướng về trời cất tiếng ca: "Chúa là mục tử tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi”.

2) Loan báo những kỳ công Chúa đã thực hiện nơi ta và nhờ ta (Tài liệu của Uỷ ban khuyến khích ơn gọi toàn quốc) Cầu nguyện cho ơn kêu gọi, ngày thế giới cầu nguyện cho ơn kêu gọi... những bản văn được đề nghị cho ngày này mời gọi ta vừa tiến bước, vừa đi theo con đường hòa nhập vào một cộng đoàn thuộc về Đức Giêsu và mời gọi ta làm theo thánh ý Thiên Chúa, nghĩa là làm lành, sống trong tình yêu nồng nàn và thực sự của Đức Giêsu đối với thế giới bằng cách sống chiến đấu cho công bằng và qua đó biểu tỏ tất cả! niềm hi vọng trong chúng ta. Đức Kitô đã ban lời Ngài để nó thấm nhập, tăng trưởng, đâm rễ và triển nở trong đời sống chúng ta. Lời Chúa mở cửa, mời gọi đón nhận và nhận biết sự tùy thuộc vào Thiên Chúa tình yêu, Thiên Chúa của Đức Kitô Đấng biết rõ từng tên, từng người chúng ta. Ngài kêu gọi chúng ta, không phải để nhốt ta trong vòng rào mênh mông, hầu gìn giữ hay che chở chúng ta, nhưng như những con chiên mà Ngài kêu gọi, “Ngài đưa chúng ra ngoài" để nghe rõ tiếng Ngài hơn, và nhận ra con đường mà chính Ngài đã mượn, trên đó, Ngài dấn bước, ra đi và khơi dậy niềm tự do để người ta được sống và sống dồi dào.

Tất cả những điều này đều có thể thành toàn nhờ cầu nguyện, tiếp xúc thân mật với Đức Kitô, nhờ mối dây tình yêu thương hằng và liên tục giữa lòng với lòng, vì thế cầu nguyện cho ơn gọi có nghĩa là cầu nguyện cho con người, chia sẻ cuộc sống của Thiên Chúa, trở nên những cộng đoàn, xây dựng những cộng đoàn Kitô hầu sống động và tích cực. Còn về ơn gọi linh mục, tu sĩ, đừng mong những phép lạ, không phải chỉ cầu nguyện là có nhiều ơn gọi đâu… điều đó chỉ có được nếu chúng ta cầu nguyện trong chân lý, bằng cách xây dựng những cộng đoàn Kitô hữu thực sự, lúc bấy giờ, tự nhiên sẽ có những lời đáp trả. Nếu hôm nay, 5 triệu tín hữu Pháp tuyên xưng niềm tin vào Đức Kitô đã chết và phục sinh, thì sẽ có 5 triệu "ơn gọi” vì thế ngày nay, cần phải nói lên điều mình sống, điều mình tin, loan báo những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện nơi ta và qua ta.

 

75.Cửa Chuồng Chiên

(Chú giải và Suy niệm của Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X)

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Phải hiểu thế nào công thức nhập đề long trọng ở câu 1. Đoạn văn này là một dụ ngôn hay ám dụ?

2. Hình ảnh người chăn chiên và đàn chiên có thường gặp trong Thánh Kinh không?

3. Phải lồng hình ảnh này vào trong khung cảnh đời sống xứ  Palestine như thế nào?

4. Chúa Giêsu là mục tử trong nghĩa nào?

5. Chúa Giêsu là cửa (cửa chiên) theo nghĩa nào?

CHÚ GIẢI

1. Trong Tin Mừng Gioan, công thức nhập đề long trọng “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi” (c.1) luôn luôn thêm vào những gì đi trước một lý chứng mới và mạnh hơn, nhưng không đưa vào một đề tài mới. Vì thế ám dụ tiếp theo được nối kết với câu chuyện người mù. Thật vậy, việc người mù bị trục xuất khỏi Israel giả và sự kiện Chúa Giêsu đón nhận lại anh, là những dữ kiện mà ám dụ sắp đào sâu ý nghĩa: “Chính để phán xét” (9, 39): lời này là câu tóm kết của ám dụ.

Chúng ta nói: ám dụ. Gioan gọi là paroimia: so sánh hãy dụ ngôn. Thật ra cả hai cũng chỉ nhấn mạnh tới ý nghĩa ẩn tàng. Trong ám dụ, các yếu tố khác nhau phải được chuyển qua một bình diện ý tưởng khác và chính ám dụ gợi ra sự chuyển dịch này. Hơn nữa lời nhập đề không cho phép ta dừng lại ở nghĩa đen. Người ta không bắt đầu một trình thuật hoặc một bài mô tả bằng câu: “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi …”. Việc chuyển dịch, ta thấy có ngay trước mắt: ràn chiên ám chỉ dân Chúa; các kẻ chăn chiên thật và giả là Chúa Giêsu và các nhà lãnh đạo dân chúng; chiên là những tín hữu lắng nghe tiếng nói của người chăn: Thành ra mục đích của ám dụ là đánh dấu sự phân biệt giữa đàn chiên thật và đàn chiên giả. Có nhiều điểm tương đồng với ám dụ cây nho thật (15,1- 8).

2. Để nói về vai trò tôn giáo của Người nơi dân Do thái, Chúa Giêsu dùng hình ảnh người mục tử, mà Thánh kinh năng dùng vì nó giúp liên tưởng dễ dàng đến đám dân du mục này. Đàn chiên thường là tài nguyên độc hữu của, dân du mục; thật thế những gì là cần thiết về thức ăn (bơ, qua, thịt), áo mặc (len), họ đều lấy từ đó. nhưng nếu đàn vật đã quý giá trên lưỡng diện lợi ích, thì càng quý hơn trên bình điện tình cảm. Sống mãi với đàn chiên, người mục tử dần dà biết từng con một và yêu thương chúng; anh ta xem các con vật này như bạn đường của mình, và nâng chúng lên hàng thân thuộc một cách nào đó, theo như bài dụ ngôn tuyệt vời của ngôn sứ Nathan kể cho Đavít (2 Sm 12, 1- 4).

Chính vì những lý do ấy mà người chăn chiên luôn luôn lo lắng cho đàn chiên: anh ta theo sát từng con, đem đến đồng cỏ xanh tươi nhất, ở đâu cũng lo cho chúng khỏe mạnh và an toàn; chiều tối, anh dẫn về chuồng chung và giao cho người canh giữ ban đêm đứng gác trước cửa.

Người Do thái đã sớm nhìn thấy trong những thực tại quen thuộc đó một biểu tượng hùng hồn cho những thực tại tôn giáo; hình ảnh mục tử mô tả đúng Giavê trong vai trò và tình cảm của Ngài đối với Israel, cũng như hình ảnh đàn chiên nói lên những gì Israel tiêu biểu đối với Thiên Chúa, là đối tượng chủ yếu của lòng Ngài mến yêu và quan tâm lo lắng, là kho tàng quý giá nhất của Ngài ở trên trần gian (Ed 34, 11- 16).

Rồi từ Giavê, hình ảnh mục tử được áp dụng cho những kẻ Ngài ủy nhiệm việc hiện thân cách hữu hình, bên cạnh Israel, cái vai trò Mục tử tối cao vô hình của Ngài: Môisen, Đavít, các vua, các thủ lãnh chính trị cũng như các tư tế, tất cả đều là mục tử phụ tá do ủy nhiệm thần linh, là người thay mặt của Mục tử vô hình, có nhiệm vụ trung thành diễn tả vai trò và tâm tình của Ngài đối với Israel. Các mục tử xấu, tức những kẻ thay vì lo nuôi dưỡng đàn chiên Chúa, lại lợi dụng để nuôi chính mình, thì Mục tử tối cao sẽ không quên trừng trị (Ed 34, 1- 10) Ngài sẽ dành quyền chăn dắt đàn chiên cho một Mục tử biết mặc ấy hoàn toàn vai trò và tâm tình của Ngài (Ed 34,23- 31). Đó Chính là hậu cảnh của bài trần thuyết hôm nay, trong đó Chúa Giêsu, vị Mục tử được Thiên Chúa ủy nhiệm và nhiệt thành cho đến chết, tự giới thiệu mình đối nghịch với nhóm biệt phái là những kẻ thiếu nhiệt thành cũng như ủy nhiệm.

Ngoài chương 34 tuyệt vời của ngôn sứ Êdêkien nói trên, ta cũng hãy nhắc lại một vài bản văn Cựu ước đã dùng hình ảnh người mục tử và đàn chiên: Is 40, 10-11 ; Gr 23, 1- 4 ; Tv 23 v.v… Thành thử không lạ gì trong Tân ước, hình ảnh này được lấy lại cách chi tiết hoặc chỉ thoáng qua thôi, như dụ ngôn con chiên lạc (Mt 18,12-14; Lc 15,4-7) ; câu nói (logion) về đàn chiên nhỏ bé (Lc 12, 32), chiên và dê (Mt 25, 31- 46), các ngôn sứ giả tự xem mình là mục tử (Mt 7, 15), đàn chiên mà chủ chăn bị người ta đánh để phận tán chiên (Mc 14,27, Ml 20, 31 ; x. Ga 16, 32), chiên lạc nhà Israel (Mt 10, 6 ; 15, 24 v.v…)  (Cv 20, 28 ; Ep 4, 11 ; 1 Pl 2, 25 ; 5, 2- 4 ; Dt 13, 20 ; Kh 12, 5 ; 19, 15).

3. Ám dụ mô tả một mảnh đời sống thường nhật tại Palestine. Chuồng chiên là thành phần không thể thiếu của thắng cảnh xứ đó. Đấy là một hàng rào hình chữ nhật hoặc hình vuông, dùng để nhốt chiên thuộc nhiều đàn khác nhau vào ngủ ban đêm. Ban đêm, chiên được một người canh giữ. Sáng lại, các mục tử (hoặc người chăn thuê) đến tìm chiên. Người canh mở cửa cho kẻ chăn với tiếng kêu đặc biệt, anh ta gọi chiên của mình. Và đàn vật đi ra từng con, qua một cánh cửa hẹp, trong lúc người chăn lấy gậy đếm chúng. Khi chiên đã ra khỏi chuồng, người mục tử đi trước và dẫn chúng đến đồng cỏ. Cũng có trường hợp một mục tử dẫn chiên thuộc nhiều chuồng khác nhau (10, 16).

Phân biệt người chăn với kẻ trộm không khó gì. Người chăn vào chuồng bằng cửa chính còn kẻ trộm nhảy qua hàng rào. Nhưng bây giờ cửa chỉ là chuyện phụ thuộc. Người canh gác không phải là kẻ duy nhất biết phân biệt mục tử với tên trộm, chính đàn chiên cũng biết ám dụ nhấn mạnh điểm này. Phản ứng của bầy chiên cũng giống như phản ứng của anh mù bẩm sinh. Lắng nghe Chúa Giêsu mặc cho nhóm Biệt phái phản đối, con người công chính trên đã phân biệt được mục tử với bọn trộm cắp.

Dĩ nhiên người Do thái chả hiểu tí gì những lời của Chúa Giêsu. Họ không phải là chiên trong đàn chiên Giavê (9,40).

4. Là Mục tử chân thật, trước tiên Chúa Giêsu xác định rõ cái gì phân biệt Người với các mục tử giả hiệu. Nếu có ai ban đêm xâm nhập chuồng chiên mà không đi qua người canh gác đứng ở cửa vào thì đó là kẻ trộm. Theo toàn thể văn mạch, Chúa Giêsu nhắm các người Biệt phái và Ký lục là những kẻ từ lâu đã tự đặt mình làm thủ lãnh và linh hướng của dân chúng mà không qua Vị Canh giữ tối cao, không lãnh nhận từ Thiên Chúa một ủy nhiệm nào để thi hành sứ mệnh đó cả; như bọn trộm cướp, họ đã chiếm đoạt đám tín hữu vì háo danh và óc thống trị hơn là vì quan tâm đến thiện ích thiêng liêng của tín hữu (cc. 8. 10).

Sau đó, Chúa Giêsu mô tả thái độ quen thuộc của người mục tử chính hiệu (cc. 2- 6) ; dùng con đường thông thường, ông ta được người giữ cổng dẫn vào chuồng chiên; được chiên của mình nhận biết và lắng nghe – chúng chạy trốn mọi kẻ chăn khác ông gọi chúng bằng một tiếng kêu đặc biệt và dẫn chúng đi tới đồng cỏ. Qua bức tranh đơn giản ấy, Chúa Giêsu muốn mô tả thái độ riêng của Người; để chứng tỏ rằng Người hội đủ mọi điều kiện cần thiết cho Mục tử chính hiệu của Israel.

Để đến với Đàn chiên Thiên Chúa, Người đã mượn con đường thông thường, vì Người chỉ tới theo mệnh lênh và ủy nhiệm thần linh mà Người đã nhận từ Cha khi chịu phép rửa (1, 31- 34). Đóng vai trò gác cửa do ủy nhiệm thần linh, Gio-an Tẩy giả đã mở cửa cho người và đã giới thiệu Người với dân chúng, đặc biệt với môn đồ của ông (1, 23- 31). Nicôđêmô và nhiều kẻ khác cũng công nhận vị Tôn sư có một sứ mệnh chính thức lãnh từ Thiên Chúa (3, 2).

Như các môn đồ (1, 35- 49) và anh mù bẩm sinh cho thấy chỉ có chiên, là những tín hữu thật, với biết ngoan ngoãn nghe tiếng Người: vì “phàm ai nghe và học nơi Cha, thì (chỉ có kẻ ấy) đến với Chúa Giêsu” bằng đức tin (6, 45 ; 8, 47). Chiên Người vị Mục tử gọi bằng tên của chúng, nói với chúng như với Philipphê: “Hãy theo Ta” (1, 43). Qua tiếng gọi đặc biệt đó, Người kéo họ ra khỏi thế gian (15, 19) và khỏi Do thái giáo, rồi tiên phong dẫn họ tới đồng cỏ (Giáo hội) và tới Chúa Cha. Đặt trọn niềm tin tưởng vào Người, các con chiên “theo Người”, làm môn đồ Người, vì họ biết tiếng Người: đức tin cho họ một thứ khứu giác thiêng liêng, một cảm thức gần như bản năng về những thực tại thần linh, nhờ đó họ phân biệt trong tiếng nói Chúa Giêsu một âm vang trung thực của tiếng nói Cha trên trời và biết rằng qua miệng của Người, chính Cha đang nói (14,10) ; đó là điều khiến họ không làm môn đồ cho một kẻ chăn chiên xa lạ, chẳng hề được Thiên Chúa ủy nhiệm: vì không nhận ra nơi giọng nói kẻ này âm vang của Lời Thiên Chúa, nên họ chạy trốn tên xâm nhập đó, kẻ đến để sát hại, trộm cắp và tiêu diệt đàn chiên (c. 10).

Những người Biệt phái mà dụ ngôn này nhắm tới chả bắt được bài học Chúa Giêsu dạy họ: bởi vì chiên lạ không nghe tiếng của mục tử chính danh: “Các ngươi không tin vì các ngươi không thuộc đàn chiên của Ta” (10, 26).

5. Để bổ túc hình ảnh trước, Chúa Giêsu dùng những kiểu nói rất mạnh chỉ rõ cái làm cho người khác biệt hơn cả với nhóm Biệt phái trong sứ vụ của Người nơi dân Israel. “Ta là cửa đàn chiên”. Thiên Chúa đã lùa chiên Ngài vào chuồng chiên chật hẹp của Israel, đặt dưới sự che chở của hàng rào Lề luật trong lúc chờ đợi vị chủ chăn sẽ một ngày kia đem chúng vào những đồng cỏ mênh mông của Giáo hội. Ám chỉ đến lời sấm của Mica (2,13), Chúa Giêsu tuyên bố Người là cửa, là cái phương thế Thiên Chúa thiết định để từ chuồng chiên chật hẹp trên, người ta đi vào nước Chúa bao la to rộng. Chỉ có Người mới đưa tín hữu vào mảnh đất sống rộng lớn ấy, bằng cách cho họ tái sinh bởi nước và Thần khí (3,3-6), hầu họ được cứu rỗi và ma quỷ, họ vui hưởng tự do đích thực của con cái trong  nhà Cha (8, 34- 44). Cũng trong Người, họ tìm được thức-ăn no thoả là bánh và nước hằng sống, có sức dập tắt vĩnh viễn cơn đói khát thiêng liêng của con người (6, 35 ; 4, 14).

Mọi công cuộc của Người, đặc biệt nhất là việc ban “bánh sẽ lưu lại trong mỗi người như nguồn sống vĩnh cửu” (6, 27) và việc ban “Thần khí vọt đến sự sống đời đời” (4,14), chứng nhận rằng Chúa Giêsu không có ưu tư nào khác ngoài việc làm cho chiên của Người được sống sự sống thần linh, với một cường độ không ngừng tăng triển, đối lại với những hạng chăn chiên giả chỉ tìm cách sát hại chiên theo sự xúi giục của Satan, tên giết người.

Các ký lục và luật sĩ đã đến trước Chúa Giêsu. Họ là những tay đạo chích: dù không dược Thiên Chúa ủy nhiệm, họ vẫn tự ý đặt mình cai trị dân vì ưa tìm vinh quang và quyền lực hơn là ưu tư thiện ích cho tín hữu. “Trong mọi việc, họ hành động để được người ta để ý … ; họ sinh cỗ nhất trong bữa tiệc, chỗ lớn nơi hội đường, ưa được bái chào ngoài đường phố …, khoái được thiên hạ xưng hô là “Rabbi” … Họ bó những “gánh nặng đặt trên vai người khác, còn chính họ lại không muốn lấy ngón tay đụng vào” (Mt 23,4-7). Họ còn là bọn cướp đến sát hại và hủy diệt, như lời Chúa Giêsu tuyên bố với họ trong những câu mạt sát của Người: “Khốn cho các ngươi, Ký lục và biệt phái giảhình, vì các ngươi khóa nước Trời chặn người ta lại ! các ngươi sẽ chẳng vào đã rồi, mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng chẳng để cho vào khốn cho các ngươi, Ký lục và Biệt phái giả hình, các ngươi rảo khắp biển cả đất liền để chinh phục dẫu một người tòng giáo, song khi nó đã tòng giáo, thì các ngươi lại biến nó thành con cái hỏa ngục gấp đôi các ngươi ! … ” (Mt 23, 13- 15).

May thay, các chiên thật đã chẳng nghe theo lũ chăn chiên giả này, vì không nhận ra trong tiếng của họ Lời Mục tử tối cao.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

"Kẻ nào ngang qua cửa mà vào, kẻ đó mới là người chăn chiên". Câu này phải dịch vậy vì bản văn Hy lạp không có mạo từ trước chữ. "Người chăn chiên”, nhưng đúng hơn nên dịch: "là một người chăn chiên": vì như thế mới thích hợp với hoàn cảnh thực tế của xứ Palestine, bởi có nhiều người chăn cùng nhốt chiên của mình trong cùng một chuồng.

"Kẻ ấy gọi tên từng con". Bản văn Hy lạp viết: katonoma, mà có lẽ đôi khi người ta dịch quá sát chữ là "từng con bằng tên của nó". Thực ra, ngay cả thời bây giờ, mục tử xứ Palestine chỉ đặt tên cho những con chiên chính của đàn. Cha Jaussen có kể ra nhiều thí dụ điển hình trong cuốn Naplouse, tr. 305. Thành thử ở đây nói rằng mỗi con chiên có một tên riêng thì hơi quá đáng. Một vài tác giả ưa dịch "Kat onomat” là từng con một" (BJ) hoặc là "riêng từng con" (Jouon). Dù chọn cách giải thích nào đi nữa, thì ý tưởng chính vẫn là Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến chiều kích cá vị trong mối tương quan giữa Người với các môn đồ, ngược lại với kẻ mị dân chỉ đối xứ với người ta như những đám đông không tên tuổi.

"Bao nhiêu kẻ đã đến, thảy đều là trộm là cướp": Đây không có ý nói về các ngôn sứ của Cựu Ước, nhưng là về những người, trong xã hội Do thái cũng như trong thế giới lương dân, thường tự hào là kẻ mang lại cho con người sự hiểu biết về các thực tại thần linh và ơn cứu độ bằng các phương thế riêng của họ.

KẾT LUẬN

Giữa lòng Israel cũng như giữa lòng Giáo Hội, có hai hạng người: những kẻ thực sự thuộc về đấng chăn chiên, biết đáp lại tiếng gọi của một mình Người, và những kẻ không hề lại vì họ chẳng bao giờ thuộc về Đấng ấy.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1) Thánh Gioan kể lại cho ta một ám dụ, một kiểu so sánh, điều họa hiếm trong Tin Mừng của ngài. Do đó có thể nghĩ rằng ngài muốn gán cho ẩn dụ này một tầm quan trọng đặc biệt. Dụ ngôn được nói cho người Biệt phái và muốn gởi đến họ một sứ điệp thiết yếu.

Biệt phái tự phụ mình là người hướng dẫn kẻ khác nhân danh Thiên Chúa; họ rất ghen với Chúa Giêsu vì Người được lòng dân và làm họ mất uy tín. Thành thử giữa Chúa Giêsu và họ, có một sự tranh chấp ảnh hưởng. Chúa Giêsu sắp nói rõ cho họ biết họ đã ảnh hưởng ra sao và chính Người đã ảnh hưởng thế nào trên đàn chiên Israel.

2) Chúa Giêsu là cửa vào, Người không loại bỏ một ai khỏi ơn cứu rỗi. "Người đến để tất cả nhân loại có sự sống dồi dào", ngay cả những kẻ Biệt phái vốn từ khước Người. Khi xưng mình là cửa vào, Chúa Giêsu không còn cách nào rõ hơn để xác quyết độc quyền của Người trong việc thông ban ơn cứu rỗi. Người khẳng định rằng người ta không thể tranh chấp với Người được, vì Người là cửa cứu rỗi duy nhất mà tất cả phải chấp nhận đi qua, và không ai có đặc ân được miễn, ngay cả những kẻ xem ra được trao phó một chức quyền thiêng liêng trong cộng đoàn tín hữu.

3) Giáo huấn này rất quan trọng và khẩn yếu. Chúng ta có thật sự tin rằng không có một người hướng dẫn nào khác, một vị Thầy nào khác, một lối đi nào khác cho con người ngoài Chúa Kitô không? Có nhiều Kitô hữu, khi phải nói lên điều này hôm nay, đều cảm thấy hầu như lúng túng; họ có cảm tưởng rằng mình tự gán cho mình nhiều đặc ân và đặc quyền trên những người khác. Vì ước mong hiệp nhất thiếu sáng suốt, vì khoan dung thiếu quân bình hoặc vì lẫn lộn các giá trị nên họ cảm thấy hầu như hổ thẹn về lòng tin của họ vào Chúa Giêsu Kitô. Thật vậy, người ta chẳng bảo rằng mọi tôn giáo đều có giá trị như nhau, mọi học thuyết và mọi Giáo Hội đều chính đáng miễn là ta thành thật đó sao? Nhưng khi xưng mình là cửa duy nhất, Chúa Giêsu đã dẹp tan mọi lối biện luận hồ đồ này. Chẳng phải là tất cả mọi người không mang danh hiệu Kitô hữu cách chính thức đều bị ở ngoài chuồng chiên cả đâu nhưng, Chúa Giêsu muốn nói rằng ngay cả người ngoại giáo nào có thiện chí, người vô thần nào cố gắng sống ngay thẳng theo lương tâm, đều đã chỉ nhờ một mình Chúa Kitô mà được như vậy. Thành ra những ai, thuộc về chuồng chiên của Chúa Kitô mà không ý thức rõ ràng, đều phải qua cửa vào là chính Người vậy.

4) "Chiên Người, Người gọi từng con một". Có nghĩa là Chúa biết mỗi một người cách đặc biệt. Người có thể biết như vậy vì Người là Thiên Chúa. Đó chẳng phải là một sự kiện đánh động chúng ta cách mãnh liệt đó sao?

 

home Mục lục Lưu trữ