Hình thành - Phát triển
Sinh hoạt giáo xứ
Tìm hiểu giáo lý
Xã hội
Đang online: 258
Tổng truy cập: 1927442
CUỘC SÁNG TẠO MỚI
CUỘC SÁNG TẠO MỚI
Đức Bênêđictô XVI, lễ vọng Phục sinh năm A (23/4/2011) - Cuộc sáng tạo mới
Anh chị em thân mến,
Cử hành phụng vụ đêm Canh thức Vượt qua sử dụng hai dấu chỉ đầy ý nghĩa. Trước hết là lửa, lửa trở thành ánh sáng. Khi đoàn rước tiến qua nhà thờ còn chìm trong bóng tối của đêm đen, ánh sáng của Nến Phục sinh trở thành một làn sóng ánh sáng, và điều này nói với chúng ta về Đức Kitô như sao mai đích thực không bao giờ lặn - Chúa Phục Sinh, Đấng mà nơi Người ánh sáng đã chiến thắng bóng tối. Dấu chỉ thứ hai là nước. Một đàng, nước gợi nhớ lại nước Biển Đỏ, sự suy tàn và sự chết, mầu nhiệm Thập giá. Nhưng giờ đây nước được trình bày cho chúng ta như nước nguồn, một yếu tố ban sự sống giữa cảnh khô cằn. Như thế, nước trở thành hình ảnh của bí tích Thánh tẩy, nhờ đó chúng ta được thông phần vào sự Chết và sự Phục sinh của Đức Giêsu Kitô.
Tuy nhiên, những dấu chỉ vĩ đại của công trình tạo dựng này, ánh sáng và nước, không phải là những yếu tố duy nhất cấu thành phụng vụ đêm Canh thức Vượt qua. Một đặc điểm cốt yếu khác là cuộc gặp gỡ phong phú với những lời của Kinh thánh mà phụng vụ này mang lại. Trước cuộc canh tân phụng vụ, có mười hai bài đọc từ Cựu ước và hai bài đọc từ Tân ước. Các bài đọc từ Tân ước vẫn được giữ lại. Số bài đọc từ Cựu ước được ấn định là bảy, nhưng tùy theo hoàn cảnh địa phương, có thể giảm xuống còn ba. Giáo hội muốn trao cho chúng ta một cái nhìn toàn cảnh về toàn bộ tiến trình của lịch sử cứu độ, khởi đi từ công trình tạo dựng, qua việc tuyển chọn và giải phóng Israel cho đến chứng từ của các ngôn sứ, nhờ đó toàn bộ lịch sử này được hướng đến Đức Giêsu Kitô một cách rõ ràng hơn bao giờ hết. Trong truyền thống phụng vụ, tất cả các bài đọc này được gọi là các lời ngôn sứ. Ngay cả khi chúng không trực tiếp báo trước những biến cố tương lai, chúng vẫn mang tính ngôn sứ, chúng cho chúng ta thấy nền tảng nội tại và định hướng của lịch sử. Chúng làm cho công trình tạo dựng và lịch sử trở nên sáng tỏ đối với những gì là thiết yếu. Theo cách này, chúng cầm lấy tay chúng ta và dẫn chúng ta đến với Đức Kitô; chúng chỉ cho chúng ta Ánh Sáng đích thực.
Trong Đêm Canh thức Vượt qua, cuộc hành trình theo những nẻo đường của Kinh thánh bắt đầu với trình thuật tạo dựng. Đó là cách phụng vụ nói với chúng ta rằng chính câu chuyện tạo dựng tự nó là một lời ngôn sứ. Đây không phải là thông tin về những tiến trình bên ngoài mà qua đó vũ trụ và chính con người đã được tạo thành. Các Giáo phụ của Giáo hội đã nhận thức rõ về điều này. Các ngài không giải thích trình thuật ấy như một bản tường thuật về tiến trình khởi nguyên của vạn vật, nhưng như một chỉ dẫn hướng về điều thiết yếu, hướng về khởi đầu và cùng đích và sự hiện hữu đích thực của chúng ta. Giờ đây, người ta có thể hỏi: liệu việc nói về công trình tạo dựng trong đêm Canh thức Vượt qua có thực sự quan trọng không? Chúng ta không thể bắt đầu với những biến cố trong đó Thiên Chúa kêu gọi con người, quy tụ cho mình một dân và kiến tạo lịch sử của Ngài với con người trên mặt đất sao? Câu trả lời là: không. Lược bỏ công trình tạo dựng là hiểu sai chính lịch sử của Thiên Chúa với con người, là làm giảm bớt giá trị của lịch sử ấy, là đánh mất trật tự cao cả đích thực của nó. Dòng chảy của lịch sử do Thiên Chúa thiết lập chảy ngược về tận nguồn cội, trở về với cuộc tạo dựng. Lời tuyên xưng đức tin của chúng ta bắt đầu bằng những lời: “Chúng tôi tin kính một Thiên Chúa, là Chúa Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất”. Nếu chúng ta bỏ đi phần mở đầu của kinh Tin kính, toàn bộ lịch sử cứu độ sẽ trở nên quá giới hạn và quá nhỏ bé. Giáo hội không phải là một thứ hiệp hội chỉ quan tâm đến những nhu cầu tôn giáo của con người nhưng lại bị giới hạn trong mục tiêu ấy. Không, Giáo hội đưa con người đến gặp gỡ Thiên Chúa và như thế đến với nguồn cội của vạn vật. Vì vậy, chúng ta quy hướng về Thiên Chúa như Đấng Tạo Hóa, và như thế chúng ta có trách nhiệm đối với công trình tạo dựng. Trách nhiệm của chúng ta mở rộng đến toàn thể tạo thành, bởi vì mọi sự đều phát xuất từ Đấng Tạo Hóa. Chỉ vì Thiên Chúa đã tạo dựng mọi sự mà Người mới có thể ban sự sống cho chúng ta và hướng dẫn cuộc đời chúng ta. Sự sống trong đức tin của Giáo hội không chỉ bao gồm một tập hợp những cảm xúc, những tâm tình, hay có lẽ cả những nghĩa vụ luân lý. Đức tin bao trùm toàn thể con người, từ nguồn gốc của họ cho đến vận mệnh vĩnh cửu của mình. Chỉ vì công trình tạo dựng thuộc về Thiên Chúa nên chúng ta mới có thể hoàn toàn phó thác mình trong tay Người. Và chỉ vì Người là Đấng Tạo Hóa nên Người mới có thể ban cho chúng ta sự sống đời đời. Niềm vui trước công trình tạo dựng, tâm tình tạ ơn vì công trình tạo dựng, và trách nhiệm đối với công trình ấy, tất cả đều gắn bó với nhau.
Sứ điệp trung tâm của trình thuật tạo dựng còn có thể được định nghĩa cách chính xác hơn nữa. Ngay trong những lời mở đầu Tin mừng của mình, Thánh Gioan đã tóm kết ý nghĩa thiết yếu của trình thuật ấy trong một tuyên bố duy nhất: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời.” Thật vậy, trình thuật tạo dựng mà chúng ta vừa nghe trước đó được đặc trưng bởi cụm từ lặp đi lặp lại: “Và Thiên Chúa phán…”. Thế gian là sản phẩm của Ngôi Lời, của Logos, như Thánh Gioan diễn tả, khi sử dụng một thuật ngữ then chốt của ngôn ngữ Hy Lạp. “Logos” có nghĩa là “lý trí”, “ý nghĩa”, “lời”. Đó không phải là lý trí theo nghĩa đơn thuần, nhưng là Lý Trí sáng tạo, Đấng nói và thông truyền chính mình. Chính Lý Trí vừa hiện hữu vừa tạo nên ý nghĩa. Vì thế, trình thuật tạo dựng nói với chúng ta rằng thế giới là sản phẩm của Lý Trí sáng tạo. Như thế, trình thuật ấy cho chúng ta thấy rằng, thay vì sự thiếu vắng lý trí và tự do ở nguồn cội của muôn vật, thì chính Lý Trí sáng tạo, tình yêu và tự do mới là nguồn gốc của mọi sự. Ở đây, chúng ta đối diện với chọn lựa căn bản và tối hậu trong cuộc tranh luận giữa đức tin và sự vô tín: phải chăng sự phi lý, sự thiếu tự do và sự ngẫu nhiên thuần túy là nguồn gốc của mọi thứ, hay chính lý trí, tự do và tình yêu mới là nền tảng của hữu thể? Quyền ưu tiên thuộc về điều phi lý hay thuộc về lý trí? Chung quy, mọi sự đều quy về điểm này. Là những người tin, chúng ta trả lời, cùng với trình thuật tạo dựng và cùng với Thánh Gioan, rằng: lúc khởi đầu là lý trí. Lúc khởi đầu là tự do. Vì thế, thật tốt đẹp khi được là một con người. Không phải là trong một vũ trụ đang giãn nở, ở một giai đoạn muộn màng, tại một góc rất nhỏ của vũ trụ, đã ngẫu nhiên tiến hóa một loài sinh vật có khả năng lý luận và cố gắng tìm kiếm tính hợp lý trong công trình tạo dựng, hay đem tính hợp lý vào trong đó. Nếu con người chỉ đơn thuần là một sản phẩm ngẫu nhiên của tiến hóa tại một nơi nào đó ở bên lề vũ trụ, thì cuộc sống của họ sẽ không có ý nghĩa, hoặc thậm chí chỉ là một trò ngẫu nhiên của tự nhiên. Nhưng không, Lý Trí hiện diện ngay từ khởi đầu: Lý Trí sáng tạo, Lý Trí thần linh. Và bởi vì đó là Lý Trí, nên cũng đã tạo dựng nên tự do; và bởi vì tự do có thể bị lạm dụng, nên cũng tồn tại những thế lực gây tổn hại cho công trình tạo dựng. Vì thế, có thể nói, một đường đen đậm đã được vạch ngang qua cấu trúc của vũ trụ và qua chính bản tính con người. Nhưng bất chấp sự mâu thuẫn này, công trình tạo dựng tự nó vẫn tốt đẹp, sự sống vẫn tốt đẹp, bởi vì lúc khởi đầu là Lý Trí thiện hảo, là tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Do đó, thế giới có thể được cứu độ. Vì thế, chúng ta có thể và phải đứng về phía lý trí, tự do và tình yêu - đứng về phía Thiên Chúa, Đấng yêu thương chúng ta đến nỗi đã chịu đau khổ vì chúng ta, để từ cái chết của Người có thể phát sinh một sự sống mới, vĩnh cửu và được chữa lành.
Trình thuật tạo dựng trong Cựu ước mà chúng ta vừa nghe rõ ràng cho thấy trật tự ấy của thực tại. Nhưng trình thuật ấy còn dẫn chúng ta tiến thêm một bước nữa. Trình thuật đã cấu trúc tiến trình tạo dựng trong khuôn khổ một tuần lễ, hướng đến ngày sabát, nơi công trình tạo dựng được hoàn thành. Đối với Israel, ngày sabát là ngày mà mọi người đều được tham dự vào sự nghỉ ngơi của Thiên Chúa; trong ngày ấy, con người và súc vật, chủ và tôi tớ, người lớn và kẻ bé mọn được hiệp nhất trong sự tự do của Thiên Chúa. Như thế, ngày sabát là một biểu hiện của Giao ước giữa Thiên Chúa với con người và với toàn thể tạo thành. Theo cách đó, sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người không xuất hiện như một điều gì thêm vào, một điều được bổ sung về sau cho một thế giới vốn đã được tạo dựng trọn vẹn. Giao ước, tức là sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người, đã được xây dựng ngay ở tầng sâu thẳm nhất của công trình tạo dựng. Đúng vậy, Giao ước chính là nền tảng bên trong của công trình tạo dựng, cũng như công trình tạo dựng là giả định bên ngoài của Giao ước. Thiên Chúa đã dựng nên thế giới để có một không gian, nơi Người có thể thông ban tình yêu của Người, và từ đó có thể nhận lại lời đáp trả của tình yêu. Theo cái nhìn của Thiên Chúa, trái tim của con người biết đáp lại Người còn lớn lao và quan trọng hơn toàn thể vũ trụ vật chất bao la, cho dù chính vũ trụ ấy cho phép chúng ta thoáng thấy phần nào sự cao cả của Thiên Chúa.
Tuy nhiên, lễ Phục sinh và kinh nghiệm Vượt qua của các Kitô hữu đòi buộc chúng ta phải tiến thêm một bước nữa. Ngày sabát là ngày thứ bảy trong tuần. Sau sáu ngày, trong đó con người theo một nghĩa nào đó được tham dự vào công trình tạo dựng của Thiên Chúa, ngày sabát là ngày nghỉ ngơi. Thế nhưng, trong Giáo hội sơ khai đã xảy ra một điều hoàn toàn chưa từng có: vị trí của ngày Sabát, tức ngày thứ bảy, đã được thay thế bởi ngày thứ nhất. Với tư cách là ngày của cộng đoàn phụng vụ quy tụ, đó là ngày gặp gỡ Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô, Đấng, với tư cách là Chúa Phục sinh, đã gặp các môn đệ của Người vào ngày thứ nhất, tức Chúa nhật, sau khi các ông tìm thấy ngôi mộ trống. Như thế, cấu trúc của tuần lễ đã bị đảo ngược. Nó không còn hướng về ngày thứ bảy như thời gian để tham dự vào sự nghỉ ngơi của Thiên Chúa nữa. Trái lại, nó khởi đi từ ngày thứ nhất như ngày gặp gỡ Chúa Phục sinh. Cuộc gặp gỡ này được tái diễn trong mỗi lần cử hành Thánh Thể, khi Chúa một lần nữa hiện diện giữa các môn đệ của Người và ban chính mình cho họ; có thể nói, Người để cho họ được chạm đến, và cùng ngồi vào bàn với họ. Sự thay đổi này thật hết sức phi thường, nếu xét rằng ngày sabát, ngày thứ bảy được xem là ngày gặp gỡ Thiên Chúa, lại có nguồn gốc sâu xa trong Cựu ước. Nếu chúng ta cũng lưu ý rằng sự chuyển động từ ngày lao động đến ngày nghỉ ngơi tương ứng với nhịp điệu tự nhiên như thế nào, thì tính chất quyết liệt của sự thay đổi này lại càng nổi bật hơn. Sự biến chuyển mang tính cách mạng này, xảy ra ngay từ buổi đầu lịch sử của Giáo hội, chỉ có thể được giải thích bởi sự kiện là ngày ấy đã xảy ra một điều hoàn toàn mới mẻ. Ngày thứ nhất trong tuần chính là ngày thứ ba sau cái chết của Đức Giêsu. Đó là ngày Người tỏ mình cho các môn đệ như là Chúa Phục sinh. Thật vậy, cuộc gặp gỡ ấy mang một điều gì đó làm đảo lộn mọi sự. Thế giới đã thay đổi. Con người đã chết ấy nay đang sống với một sự sống không còn bị đe dọa bởi cái chết nào nữa. Một hình thức sự sống mới đã được khai mở, một chiều kích mới của công trình tạo dựng. Theo trình thuật sách Sáng thế, ngày thứ nhất là ngày công trình tạo dựng bắt đầu. Giờ đây, ngày ấy đã trở thành ngày tạo dựng theo một cách thức mới, nó đã trở thành ngày của cuộc tạo dựng mới. Chúng ta cử hành ngày thứ nhất. Và khi làm như thế, chúng ta cử hành Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa và công trình tạo dựng của Người. Đúng vậy, chúng ta tin kính một Thiên Chúa là Đấng tạo thành trời đất. Và chúng ta cử hành Thiên Chúa, Đấng đã làm người, đã chịu đau khổ, đã chết, đã được mai táng và đã sống lại. Chúng ta cử hành chiến thắng chung cuộc của Đấng Tạo Hóa và của công trình tạo dựng của Người. Chúng ta cử hành ngày này như nguồn gốc và mục tiêu của sự hiện hữu của chúng ta. Chúng ta cử hành ngày này, bởi giờ đây, nhờ Chúa Phục sinh, đã được xác quyết một cách dứt khoát rằng lý trí mạnh hơn sự phi lý, chân lý mạnh hơn gian dối, tình yêu mạnh hơn sự chết. Chúng ta cử hành ngày thứ nhất, bởi chúng ta biết rằng đường đen đã được vạch ngang qua công trình tạo dựng không tồn tại mãi mãi. Chúng ta cử hành ngày này, bởi chúng ta biết rằng những lời ở cuối trình thuật tạo dựng giờ đây đã được ứng nghiệm trọn vẹn: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra, và này, mọi sự đều rất tốt đẹp” (St 1,31). Amen.
Đức Bênêđictô XVI, lễ vọng Phục sinh năm A (22/3/2008) - Nước và ánh sáng
Anh chị em thân mến,
Trong diễn từ ly biệt, Chúa Giêsu đã loan báo cho các môn đệ về cái chết và phục sinh gần kề của Người bằng những lời đầy nhiệm mầu: “Thầy ra đi và sẽ đến cùng anh em” (Ga 14,28). Chết là một cuộc “ra đi”. Dù thân xác người đã khuất còn đó, chính người ấy đã đi vào cõi vô định, và chúng ta không thể theo được (x. Ga 13,36). Thế nhưng, nơi Chúa Giêsu, có một điều hoàn toàn mới mẻ, một điều làm thay đổi cả thế giới. Đối với cái chết của chúng ta, sự “ra đi” ấy là dứt khoát, không có trở lại. Nhưng trái lại, Chúa Giêsu lại nói về cái chết của Người: “Thầy ra đi và sẽ đến cùng anh em.” Chính khi ra đi, Người lại đến. Sự ra đi của Người mở ra một cách hiện diện hoàn toàn mới và cao cả hơn. Qua cái chết, Người đi vào trong tình yêu của Chúa Cha. Cái chết của Người là một hành vi yêu thương. Mà tình yêu thì bất tử. Vì thế, sự ra đi ấy được biến đổi thành một cuộc trở lại mới, thành một sự hiện diện sâu xa hơn và không bao giờ chấm dứt. Trong đời sống trần thế, Chúa Giêsu cũng như mỗi người chúng ta, bị ràng buộc bởi những điều kiện bên ngoài của thân xác: một nơi chốn xác định, một thời điểm xác định. Tính hữu hạn của thân xác đặt ra những giới hạn cho sự hiện hữu của chúng ta. Chúng ta không thể cùng lúc ở hai nơi. Thời gian của chúng ta cũng sẽ đi đến chấm dứt. Đồng thời, giữa cái “tôi” và cái “anh” luôn có một bức tường của sự khác biệt. Đúng là nhờ tình yêu, ta có thể phần nào đi vào cuộc sống của người khác. Tuy nhiên, vẫn còn đó ranh giới không thể vượt qua của sự khác biệt. Thế nhưng Chúa Giêsu, Đấng giờ đây đã được hoàn toàn biến đổi nhờ hành vi yêu thương, đã vượt trên mọi giới hạn ấy. Người không chỉ có thể đi qua những cánh cửa đóng kín bên ngoài, như Tin mừng thuật lại (x. Ga 20,19); nhưng còn có thể đi qua cánh cửa nội tâm ngăn cách cái “tôi” với cái “anh”, cánh cửa đóng kín giữa hôm qua và hôm nay, giữa quá khứ và tương lai. Trong ngày Người long trọng tiến vào Giêrusalem, khi có mấy người Hy Lạp xin được gặp Người, Chúa Giêsu đã đáp lại bằng dụ ngôn hạt lúa mì phải chết đi để sinh nhiều bông hạt. Qua đó, Người báo trước vận mệnh của chính mình: những lời ấy không chỉ dành cho một vài người Hy Lạp trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Qua thập giá, qua sự ra đi, qua cái chết của Người như hạt lúa mì, Người thực sự đến với muôn dân, để họ có thể thấy Người và chạm đến Người trong đức tin. Sự ra đi của Người được biến đổi thành cuộc trở về, thành sự hiện diện phổ quát của Đấng Phục sinh: hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Người cũng đến với chúng ta hôm nay, ôm lấy mọi thời gian và mọi nơi chốn. Giờ đây, Người còn có thể vượt qua bức tường khác biệt ngăn cách cái “tôi” với cái “anh”. Điều ấy đã xảy ra nơi Thánh Phaolô, khi ngài diễn tả tiến trình hoán cải và Phép Rửa của mình bằng những lời: “Không còn phải là tôi sống, nhưng là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Nhờ cuộc ngự đến của Đấng Phục sinh, thánh Phaolô đã nhận được một căn tính mới. Cái “tôi” khép kín của ngài đã được mở ra. Giờ đây, ngài sống trong sự hiệp thông với Đức Kitô, trong cái “Tôi” lớn lao của cộng đoàn tín hữu, những người đã trở nên, như chính ngài nói, “là một trong Đức Kitô” (Gl 3,28).
Vì thế, anh chị em thân mến, rõ ràng là qua Bí tích Rửa tội, những lời nhiệm mầu Chúa Giêsu nói trong bữa Tiệc ly nay trở nên hiện thực nơi anh chị em. Trong Bí tích Rửa tội, Chúa bước vào đời sống anh chị em qua cánh cửa tâm hồn. Chúng ta không còn đứng bên cạnh nhau hay đối nghịch nhau nữa. Người đi xuyên qua mọi cánh cửa ấy. Đó chính là thực tại của Bí tích Rửa tội: Đấng Phục sinh đến; Người đến với anh chị em và kết hợp sự sống của Người với sự sống của anh chị em, lôi kéo anh chị em vào ngọn lửa rực cháy của tình yêu Người. Anh chị em trở nên một: một với Người, và vì thế, một với nhau. Thoạt nghe, điều này có vẻ trừu tượng và xa thực tế. Nhưng càng sống cuộc đời của người đã lãnh nhận Phép Rửa, anh chị em càng cảm nghiệm được chân lý của những lời ấy. Những người tin – những người đã chịu Phép Rửa – không bao giờ thực sự bị tách biệt khỏi nhau. Các châu lục, nền văn hóa, cơ cấu xã hội, thậm chí khoảng cách của lịch sử có thể phân chia chúng ta. Nhưng khi gặp nhau, chúng ta nhận ra nhau nhờ cùng một Chúa, cùng một đức tin, cùng một niềm hy vọng, cùng một tình yêu đã nhào nặn chúng ta. Khi ấy, chúng ta cảm nghiệm rằng nền tảng của đời sống chúng ta là như nhau. Chúng ta cảm nghiệm rằng nơi sâu thẳm nhất của mình, chúng ta được cắm rễ trong cùng một căn tính, nhờ đó mọi khác biệt bên ngoài, dù lớn đến đâu, cũng trở thành thứ yếu. Người tín hữu không bao giờ hoàn toàn xa cách nhau. Chúng ta hiệp thông với nhau nhờ căn tính sâu xa nhất của mình: Đức Kitô ở trong chúng ta. Vì thế, đức tin là sức mạnh của hòa bình và hòa giải cho thế giới: khoảng cách giữa con người được vượt qua; trong Chúa, chúng ta đã trở nên gần gũi (x. Ep 2,13).
Giáo hội diễn tả thực tại bên trong của Bí tích Rửa tội như hồng ân của một căn tính mới, qua những yếu tố hữu hình được dùng khi cử hành bí tích này. Yếu tố nền tảng là nước; tiếp đến là ánh sáng, được sử dụng cách đặc biệt trong phụng vụ đêm vọng Phục sinh. Chúng ta hãy dừng lại một chút trên hai yếu tố này. Trong thư gửi tín hữu Do Thái, có một câu nói về Đức Kitô tuy không trực tiếp nhắc đến nước, nhưng những ám chỉ Cựu ước lại rõ ràng hướng về mầu nhiệm nước và ý nghĩa biểu tượng của nó. Đây là lời nguyên văn: “Thiên Chúa là nguồn mạch bình an đã đưa Đức Giêsu, Chúa chúng ta, ra khỏi cái chết. Đức Giêsu là vị Mục tử cao cả của đoàn chiên, là Đấng đã đổ máu mình ra để thiết lập giao ước vĩnh cửu” (Dt 13,20). Ở đây vang vọng lời Ngôn sứ Isaia, nơi Môsê được mô tả như vị mục tử mà Thiên Chúa đưa lên từ nước, từ biển cả (x. Is 63,11). Và giờ đây Chúa Giêsu xuất hiện như vị Mục tử mới và vĩnh cửu, Đấng hoàn tất điều Môsê đã thực hiện: Người dẫn chúng ta ra khỏi dòng nước biển chết chóc, ra khỏi nước của tử thần. Trong bồi cảnh này, chúng ta có thể nhớ lại rằng mẹ của Môsê đã đặt ông vào một chiếc thúng nhỏ và thả trên dòng song Nin. Rời nhờ sự quan phòng của Thiên Chúa, ông được vớt lên khỏi nước, được đưa từ cõi chết bước vào sự sống. Và như thế, chính vì bản thân đã được cứu thoát khỏi dòng nước của sự chết, ông đã có thể dẫn đưa những người khác băng qua biển cả của tử thần. Chúa Giêsu đã vì chúng ta mà bước xuống tận những làn nước tối tăm của sự chết. Nhưng, như thư gửi tín hữu Do Thái cho chúng ta biết, nhờ chính máu của Người, Người đã được đưa trở về từ cõi chết: tình yêu của Người đã kết hiệp trọn vẹn với tình yêu của Chúa Cha, và chính vì thế, từ vực thẳm của tử thần, Người đã có thể trỗi dậy bước vào sự sống. Giờ đây, Người cũng nâng chúng ta lên khỏi dòng nước của sự chết để bước vào sự sống đích thực. Đó chính là điều diễn ra trong Bí tích Rửa tội: Người kéo chúng ta về phía Người, lôi cuốn chúng ta vào trong sự sống đích thật. Người dẫn chúng ta đi qua biển đời lịch sử vốn thường vẩn đục ngầu và đầy sóng gió, nơi chúng ta nhiều lần đứng trước nguy cơ bị nhấn chìm giữa bao hỗn độn và hiểm nguy. Có thể nói, trong Bí tích Rửa tội, Người nắm lấy tay chúng ta, dẫn chúng ta bước đi trên con đường xuyên qua Biển Đỏ của cuộc đời này, và đưa chúng ta vào sự sống vĩnh cửu, sự sống chân thật và ngay chính. Chúng ta hãy nắm chặt tay Người! Dù có bất cứ điều gì xảy đến, dù cuộc đời có đưa chúng ta đi đâu, xin đừng bao giờ buông tay Người! Hãy bước đi trên con đường dẫn đến sự sống.
Thứ đến là biểu tượng ánh sáng và lửa. Thánh Grêgôriô thành Tours (thế kỷ IV) thuật lại một thực hành đã được gìn giữ ở vài nơi suốt một thời gian dài: đó là việc thắp lửa mới cho cử hành đêm vọng Phục sinh trực tiếp từ ánh mặt trời nhờ một tinh thể pha lê. Có thể nói, ánh sáng và ngọn lửa được lãnh nhận lại từ trời cao, để từ đó mọi ánh sáng và mọi ngọn lửa của cả năm được thắp lên. Đó chính là biểu tượng của điều chúng ta đang cử hành trong đêm vọng Phục sinh này. Nhờ tình yêu tuyệt đối dành cho chúng ta, một tình yêu nơi trái tim Thiên Chúa và trái tim con người gặp gỡ nhau, Đức Giêsu Kitô thật sự đã mang ánh sáng từ trời xuống trần gian: ánh sáng của chân lý và ngọn lửa của tình yêu, có sức biến đổi chính hữu thể con người. Người đã mang ánh sáng đến, và giờ đây chúng ta biết Thiên Chúa là ai, Thiên Chúa như thế nào. Nhờ đó, chúng ta cũng hiểu được thân phận con người của mình: chúng ta là ai và chúng ta hiện hữu vì mục đích nào. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, ngọn lửa của ánh sáng ấy được thắp lên nơi sâu thẳm trong chính tâm hồn chúng ta. Vì thế, trong Giáo hội sơ khai, Bí tích Rửa tội còn được gọi là Bí tích Soi sáng: Ánh sáng của Thiên Chúa đi vào trong chúng ta; và như thế, chính chúng ta trở nên con cái của ánh sáng. Chúng ta không được để cho ánh sáng chân lý, ánh sáng chỉ cho chúng ta con đường, bị dập tắt. Chúng ta phải bảo vệ ánh sáng ấy trước mọi thế lực đang tìm cách xóa bỏ nó, để đẩy chúng ta trở lại sự mù tối về Thiên Chúa và về chính bản thân mình. Đôi khi bóng tối có vẻ dễ chịu. Tôi có thể ẩn mình trong đó và sống cả đời trong một giấc ngủ mê. Thế nhưng, chúng ta không được mời gọi bước vào bóng tối, nhưng được mời gọi bước vào ánh sáng. Qua những lời tuyên hứa khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, mỗi năm chúng ta như được mời gọi thắp sáng lại ngọn lửa ấy. Vâng, tôi tin rằng thế giới và cuộc đời tôi không phải là sản phẩm của ngẫu nhiên, nhưng là hoa trái của Lý Trí vĩnh cửu và Tình Yêu vĩnh cửu, được Thiên Chúa toàn năng dựng nên. Vâng, tôi tin rằng nơi Đức Giêsu Kitô, trong mầu nhiệm Nhập thể, Thập giá và Phục sinh của Người, dung nhan Thiên Chúa đã được tỏ lộ; rằng nơi Người, Thiên Chúa đang hiện diện giữa chúng ta, chính Người liên kết chúng ta và dẫn đưa chúng ta về cùng đích của mình, là Tình Yêu vĩnh cửu. Vâng, tôi tin rằng Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta lời chân lý và soi sáng tâm hồn chúng ta; tôi tin rằng trong sự hiệp thông của Giáo hội, tất cả chúng ta trở nên một Thân Thể với Chúa, và như thế được gặp gỡ sự phục sinh và sự sống đời đời của Người. Chúa đã ban cho chúng ta ánh sáng của chân lý. Ánh sáng ấy cũng là lửa: một sức mạnh mãnh liệt phát xuất từ Thiên Chúa, một sức mạnh không hủy diệt, nhưng tìm cách biến đổi tâm hồn chúng ta, để chúng ta thực sự trở nên những con người thuộc về Thiên Chúa, và để bình an của Người có thể lan toả trong thế giới này.
Trong Giáo hội sơ khai, có một tập tục là sau bài giảng, vị giám mục hoặc linh mục sẽ lớn tiếng mời gọi cộng đoàn: “Conversi ad Dominum” – Hãy quay về cùng Chúa. Trước hết, điều này có nghĩa là họ quay về hướng Đông, hướng mặt trời mọc, dấu chỉ của Đức Kitô đang ngự đến, Đấng mà chúng ta đi đến gặp gỡ khi cử hành Thánh Thể. Ở những nơi không thể thực hiện điều ấy, ít là họ quay về phía ảnh tượng Đức Kitô nơi cung thánh, hoặc hướng về Thánh giá, để nội tâm được quy hướng về Chúa. Nhưng trên hết, đó là một biến cố nội tâm: sự hoán cải, sự quay trở về của linh hồn chúng ta với Đức Giêsu Kitô, và nhờ đó trở về với Thiên Chúa hằng sống, với ánh sáng đích thực. Đi liền với lời mời gọi ấy là lời tung hô khác dành cho cộng đoàn tín hữu, mà cho đến hôm nay vẫn được cất lên trước Kinh nguyện Thánh Thể: “Sursum corda” – “Hãy nâng tâm hồn lên.” Hãy nâng tâm hồn lên cao, vượt lên trên mọi bận tâm lệch lạc, những ước muốn, lo âu và sự hời hợt của chúng ta – “Hãy nâng tâm hồn lên, nâng chính con người nội tâm của anh chị em lên!” Trong cả hai lời mời gọi này, chúng ta như được triệu tập để làm mới lại Bí tích Rửa tội của mình: Conversi ad Dominum – chúng ta phải luôn quay lưng lại với những nẻo đường sai lầm mà chúng ta rất thường lạc bước trong tư tưởng và hành động. Chúng ta phải không ngừng quay trở lại với Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúng ta phải luôn được hoán cải, nghĩa là đem tất cả cuộc đời mình mà quay về với Chúa. Và chúng ta cũng phải không ngừng giải thoát tâm hồn khỏi thế lực kéo nó xuống thấp, để nội tâm được nâng cao: trong chân lý và tình yêu. Trong giờ phút này, chúng ta hãy tạ ơn Chúa, vì nhờ quyền năng của Lời Người và các Mầu nhiệm thánh, Người chỉ cho chúng ta hướng đi đúng đắn và nâng tâm hồn chúng ta lên cao.
Chúng ta hãy cầu xin Người bằng những tâm tình sau: Vâng, lạy Chúa, xin làm cho chúng con trở thành những con người Phục sinh, những con người của ánh sáng, tràn đầy ngọn lửa tình yêu của Chúa. Amen.
Các tin khác
.: GIẢNG CHÚA NHẬT PHỤC SINH NĂM A (04/04/2026) .: NHỊP TIM CỦA ĐẤNG PHỤC SINH (04/04/2026) .: HỒI NHƠ VÀ LÊN ĐƯỜNG (04/04/2026) .: CHỨNG NHÂN PHỤC SINH (04/04/2026) .: HIỂU BIẾT VỀ SỰ PHỤC SINH (04/04/2026) .: LỄ PHỤC SINH (04/04/2026) .: MỪNG CHÚA PHỤC SINH (04/04/2026) .: NIỀM HY VỌNG (04/04/2026) .: NIỀM TIN (04/04/2026) .: NGÔI MỘ MỞ TUNG VÀ TRỐNG RỖNG (04/04/2026) .: XÁC NHẬN LÒNG TIN (04/04/2026) .: PHỤC SINH (04/04/2026) .: HY VỌNG MẠNH HƠN THẤT BẠI (04/04/2026) .: RAO TRUYỀN ƠN PHỤC SINH (04/04/2026) .: ĐẤNG PHỤC SINH (04/04/2026)
Mục lục Lưu trữ
- Văn Kiện Giáo Hội
- Giáo Hội Công Giáo VN
- Tin Ngắn Giáo Hội
- Tài Liệu Nghiên Cứu
- Tủ Sách Giáo Lý
- Phụng Vụ
- Mục Vụ
- Truyền Giáo
- Suy Niệm Lời Chúa
- Lời Sống
- Gợi Ý Giảng Lễ
- Hạnh Các Thánh
- Sống Đạo Giữa Đời
-
Cầu Nguyện & Suy Niệm
- Cầu Nguyện
- Suy Niệm
- Cầu Nguyện Là Gì?
- Cầu Nguyện Từ Mọi Sự Vật
- Suy Niệm Đời Chúa
- Mỗi Ngày Năm Phút Suy Niệm, (Mùa Vọng -> CNTN) - Năm A
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A - Mùa Chay
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A - Mùa Phục Sinh
- Mỗi Ngày Năm Phút Suy Niệm - Mùa Chay, C
- Năm Phút Suy Niệm Lời Chúa - Tuần Thánh - Phục Sinh, C
- Năm Phút Suy Niệm Lời Chúa Mỗi Tuần Thường Niên C
- Năm Phút Suy Niệm, Năm B (2011-12)
- Năm Phút Suy Niệm, Năm C (2012-13)
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A (2013-14)
- Cầu Nguyện Chung
- Suy Tư Và Thư Giãn
- Thánh Ca Việt Nam
- Phúc Âm Nhật Ký
- Thơ
- Electronic Books (Ebooks)
- Vatican
- Liên HĐGM Á châu
- Đài Phát thanh Chân lý Á châu - Chương trình Việt ngữ
- Giáo phận Bà Rịa
- Giáo phận Ban Mê Thuột
- Giáo phận Bắc Ninh
- Giáo phận Bùi Chu
- Giáo phận Cần Thơ
- Giáo phận Đà Lạt
- Giáo phận Đà Nẵng
- Tổng Giáo phận Hà Nội
- Giáo phận Hải Phòng
- Tổng Giáo phận Huế
- Giáo phận Hưng Hóa
- Giáo phận Kon Tum
- Giáo phận Lạng Sơn
- Giáo phận Long Xuyên
- Giáo phận Mỹ Tho
- Giáo phận Nha Trang
- Giáo phận Phan Thiết
- Giáo phận Phát Diệm
- Giáo phận Phú Cường
- Giáo phận Qui Nhơn
- Giáo phận Thái Bình
- Giáo phận Thanh Hóa
- Tổng Giáo phận TP HCM
- Giáo phận Vinh
- Giáo phận Vĩnh Long
- Giáo phận Xuân Lộc
- Ủy ban BAXH-Caritas Việt Nam
- Ủy ban Công lý và Hòa bình
- Ủy ban Giáo dục Công giáo
- Ủy ban Giáo lý Đức tin
- Ủy ban Kinh Thánh
- Ủy ban Mục vụ Di dân
- Ủy ban Mục vụ Gia đình
- Ủy ban Nghệ Thuật Thánh
- Liên hiệp Bề trên Thượng cấp Việt Nam