Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 34

Tổng truy cập: 1770400

ĐẾN THỜ LẠY

ĐẾN THỜ LẠY

 

Xưa kia có một tu sĩ thánh thiện sống ở Ai Cập. Một ngày nọ có chàng thanh niên đến thăm và muốn xin ngài dạy bảo. Anh thỉnh cầu với tu sĩ: “Thầy là người thánh thiện, xin thầy chỉ cho con biết làm thế nào tìm thấy Thiên Chúa”. Tu sĩ là người khỏe mạnh và lực lưỡng. Ngài hỏi chàng thanh niên: “Anh có thực sự muốn đi tìm Thiên Chúa không?” Chàng thanh niên trả lời: “Đúng vậy, thưa ngài, con thực sự ước ao muốn tìm kiếm Thiên Chúa”.

Sau đó tu sĩ dẫn chàng thanh niên xuống bờ sông. Thình lình, ngài túm lấy cổ anh rồi nhấn đầu xuống nước. Thoạt tiên chàng thanh niên nghĩ rằng tu sĩ ban cho anh nghi thức thanh tẩy đặc biệt giống như Phép Rửa tội của thánh Gioan Tẩy giả ở bờ sông Giođan. Nhưng sau gần hai phút tu sĩ vẫn không buông ra, anh bắt đầu vùng vẫy. Dù vậy tu sĩ vẫn dìm anh dưới nước. Bị ngộp thở, chàng thanh niên đã phải vùng vẫy mãnh liệt hơn nữa. Sau vài phút, tu sĩ lôi cổ anh lên khỏi mặt nước và nói: “Khi nào anh ước muốn tìm Thiên Chúa mạnh mẽ như anh ước ao có không khí để thở, lúc ấy anh sẽ tìm thấy Thiên Chúa”.

Hôm nay thánh Matthêu nói với chúng ta về những người có một ước muốn mãnh liệt đi tìm kiếm Đấng Cứu Chuộc nhân loại. Đó là các nhà đạo sĩ.

Một số người Kitô hữu gốc Do Thái trong cộng đoàn của Matthêu thắc mắc rằng theo Đức Giêsu có phản bội lại đức tin của tổ tiên không. Họ hỏi: “Thưa ngài Matthêu tại sao nhiều người không phải là Do Thái đang đi theo Chúa Giêsu, trong khi đa số những người đồng hương Do Thái lại từ chối Ngài?” Matthêu đã trả lời rằng vì những người không phải Do Thái, những người ngoại trở lại đã có một lòng ước muốn mãnh liệt tìm kiếm Đấng Cứu Thế. Trái lại, những vị lãnh đạo Do Thái nghĩ rằng họ đã có Thiên Chúa rồi, họ nhận thấy không có lý do gì phải đi tìm kiếm Đấng họ đã có. Đối với họ, có Đấng Cứu Thế thì cũng tốt, nhưng không phải là vấn đề cấp thiết như sự sống và sự chết. Do đó, họ đã không có một lòng ước ao mãnh liệt để tìm kiếm Ngài.

Các nhà đạo sĩ chính là những nhà thiên văn đã kiên trì nghiên cứu trong Thánh Kinh, sách của người Do Thái, nói về những dấu hiệu xuất hiện trên trời, những dấu hiệu của Đấng Cứu Thế đang đến. Họ theo dõi hằng đêm, cho đến khi khám phá thấy một vì sao. Vì lòng ao ước tìm kiếm chân lý mãnh liệt họ đã từ bỏ xứ sở của mình và lên đường. Đây là cuộc hành trình rất vất vả, khổ cực và đầy nguy hiểm trong sa mạc với đoạn đường dài 800 dặm, khoảng 1280 km, từ Babylon tới Giêrusalem. Còn chúng ta, chúng ta có khao khát muốn tìm gặp Chúa hay không?

 

126.Nên thánh    

G.K. Chesterton, tác giả nổi tiếng người Anh, đã viết một câu chuyện thú vị về ba nhà thông thái hiện đại. Họ đã nghe biết rằng có một thành phố hòa bình, một thành phố mà chưa bao giờ có chiến tranh, loạn lạc, giặc giã và khổ đau. Họ cũng nghe biết rằng, phải mang theo những lễ vật đến để chứng tỏ họ là những con người của hòa bình, và đóng góp vào việc duy trì hòa bình trong thành phố này. Do đấy họ lên đường đi tới thành Bêlem mới này với những lễ vật họ tin chắc rằng sẽ bảo đảm giữ được hòa bình và cho phép họ ở lại trong thành phố đó.

Khi đến cổng thành họ gặp thánh Giuse đứng kiểm soát những lễ vật của họ. Nhà thông thái hiện đại thứ nhất mang vàng đến. Ông giải thích rằng vàng có thể mua được mọi thứ khoái lạc trên trần gian. Hưởng khoái lạc rồi người ta không còn muốn chiến tranh nữa. Nhà thông thái hiện đại thứ hai đã không mang nhũ hương, mà mang hóa chất đến. Ông mang khoa học hiện đại vào thành phố. Với khoa học kỹ thuật ông có thể làm cho tâm trí con người ngủ mê trong hạnh phúc trần gian. Ông có thể chế ra những hạt giống nhân tạo phát sinh hoa trái và kiểm soát dân số trên mặt đất. Lúc đó dân chúng có thể thỏa mãn được tất cả nhu cầu cần thiết, và như vậy họ không phải đánh nhau nữa. Nhà thông thái hiện đại thứ ba mang một phân tử hạch nhân đến để chế bom nguyên tử, một thứ mộc dược mới, một biểu tượng mới của sự chết. Ông lập luận cứng rắn rằng bất cứ ai chống đối lại con đường hòa bình sẽ phải chết.

Sau khi khám xét lễ vật, thánh Giuse đã khước từ không cho bất cứ người nào vào cả. Họ lao nhao lên phản đối rằng: “Chúng tôi đã mang theo tất cả những phương tiện để cung cấp sự giàu có, kiểm soát thiên nhiên, và tiêu diệt kẻ thù. Chúng tôi còn phải mang thêm cái gì đến nữa để chứng tỏ rằng chúng tôi là những con người của hòa bình?” Thánh Giuse bèn kề vào tai mỗi người rồi thì thầm một lúc. Sau đó họ lặng lẽ bỏ ra đi trong buồn bã. Bạn có biết thánh Giuse nói gì với họ không? Ngài nói rằng họ đã quên mất chính Hài Nhi Giêsu!

Đó cũng là lời khuyên của Công đồng Vatican II cho thế giới văn minh khoa học ngày nay: “Chính Chúa Con Nhập Thể là thái tử của hòa bình, đã dùng thập giá của Người để hòa giải mọi người với Thiên Chúa. Người đã tái lập sự hiệp nhất mọi người thành một dân tộc và một thân thể”.

Ngày nay với chủ trương duy khoa học kỹ thuật, với sự giàu có và quyền lực, con người nghĩ rằng họ là những nhà thông thái hiện đại. Họ có thể xây dựng hòa bình mà không cần hài Nhi Giêsu. Thế nhưng họ đã lầm! Hòa bình và hạnh phúc không thể có nếu thiếu Hài Nhi Giêsu. Ngài là “Thái Tử của Hòa Bình”. Tách rời ra khỏi Thiên Chúa, con người không thể tự tạo ra hòa bình được.

Trong tông huấn Tertio Millennio Adveniente, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng cho rằng càng phát triển về văn minh vật chất, con người càng trở nên nghèo nàn về tinh thần và tạo nên cơn khủng hoảng văn minh hiện nay. Ngài nói: “Đứng trước cơn khủng hoảng văn minh đó, cần phải đáp lại bằng văn minh của tình yêu – đặt nền tảng trên các giá trị phổ quát là hòa bình, liên đới, công lý và tự do, là những giá trị gặp thấy nơi Đức Kitô sự kiện toàn đầy đủ của chúng ta”. “Chúng tôi đến để thờ lạy Người”. Tìm kiếm và thờ lạy Thiên Chúa là ước vọng thâm sâu nhất của con người như thánh Augustinô đã nói: “Chính Ngài đã thúc đẩy con người làm như thế bằng cách làm cho con người thấy khoái trá khi ca tụng Ngài, vì Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con sẽ không an vui bao lâu chưa được an nghỉ nơi Ngài”.

Sách Giáo lý Công giáo cũng dạy rằng: “Sự ước ao Thiên Chúa đã được ghi sâu trong tâm hồn con người, bởi vì con người đã được sáng tạo bởi Thiên Chúa và cho Thiên Chúa”.

Tìm kiếm Thiên Chúa để trở nên giống như Ngài, vì con người đã được dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa, với phẩm giá của mình, với ơn gọi là con cái Thiên Chúa được chia sẻ hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài. Bởi thế, con người phải trở nên hoàn thiện như Ngài. Đó là ơn gọi làm thánh (sainthood). Mỗi người được mời gọi để trở nên thánh thiện như Thiên Chúa Cha là Đấng thánh.

 

127.Lễ Hiển Linh

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Ngọc Khuê)

Chúa Giêsu là ánh sáng thế gian, bước theo Chúa Giêsu là bước đi trong ánh sáng.

Đối nghịch với ánh sáng là bóng tối. Nếu ánh sáng là niềm vui, là liên đới, hiệp thông, là điều kiện để ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp ngoại giới, thì bóng tối cầm hãm chúng ta trong cô đơn buồn chán, là chia rẽ, phân tán, là tù ngục giam hãm chúng ta trong ích kỷ, hận thù. Do vậy, con người, tự thân, khao khát tìm kiếm để được sống trong ánh sáng. Sống trong ánh sáng đồng nghĩa với sống trong tự do và phát triển.

Từ ánh sáng vật lý, chúng ta bước qua ánh sáng siêu nhiên, ánh sáng nhân đức thánh thiện, ánh sáng chân lý của Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời nhập thể, ánh sáng chân thật của Thiên Chúa đã chan hòa trên khắp địa cầu: mọi dân trên khắp cùng bờ cõi trái đất đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta.

Bài đọc I, trích sách tiên tri Isaia, mô tả cảnh đổi đời của Israel, đang từ thân phận đọa đày, nô lệ, sống trong tối tăm không có niềm hy vọng giải thoát, thì Chúa đã đến viếng thăm ; công cuộc giải phóng dân khỏi kiếp lưu đày được ví như sự bao trùm ánh sáng của Chúa trên họ. Hãy chỗi dậy, hãy bừng sáng lên vì trên ngươi Đức Chúa như ánh bình minh chiếu tỏa. Nếu kiếp sống nô lệ, đày ải nơi đất khách quê người là tù ngục, là quỵ ngã, thì ơn giải phóng khỏi kiếp tôi đòi là sự chỗi dậy, là ơn phục sinh. Niềm vui thoát cảnh nô lệ là niềm vui lớn lao nhất cho dân Chúa đang bị lưu đày. Sấm ngôn của Isaia chứa chan niềm hy vọng cho công cuộc hồi hương mà Đức Chúa sẽ thực hiện trong ngày Ngài đến viếng thăm.

Isaia tin rằng: nền hòa bình trong thời đại Đấng thiên sai là vĩnh viễn và phổ quát, nghĩa là mọi dân đều hướng về Jêrusalem mà cầu phúc cho nhau. Mọi phúc lành sẽ tuân đổ về đó như dòng sông: mọi nguần phú túc, giầu sang sẽ đến với ngươi. Israel được phục hồi, được hưởng nền hòa bình viên mãn, không phải do sức lực, tài khéo, nhưng vì họ cậy trông vào Thiên Chúa. Thiên hạ tuân đổ về Jêrusalem, không phải để triều cống cho Israel, nhưng để tiến dâng cho Chúa như của lễ lòng thành và cầu xin Ngài thi ân giáng phúc.

Bài Tin Mừng hôm nay, như xác tín niềm tin thời Cựu Ước, khi các nhà đạo sỹ Phương đông đại diện cho tất cả mọi người thành tâm tìm Chúa, lên đường, bước theo ánh sao tìm về Jêrusalem ra mắt vị vua mới sinh của người Do Thái. Các đạo sỹ Phương đông lên đường nói lên lòng khao khát chân lý, khao khát ánh sáng chân thật, khao khát Thiên Chúa vì chỉ mình Chúa là đường, là sự thật và là sự sống. Các vị đạo sỹ coi việc gặp Chúa là mục đích lớn nhất nên bất chấp khó khăn, rủi ro, nguy hiểm đang rình rập họ trên hành trình ấy.

Khi đem Tin Mừng đến cho các dân tộc, các nhà truyền giáo cũng sẵn sàng chấp nhận rủi ro, nguy hiểm đe dọa tính mạng. Họ ra đi với ánh sáng đức tin và hy vọng đem ánh sáng ấy đến cho anh chị em của mình. Lịch sử truyền giáo tại Á Châu là bằng chứng rất cụ thể. Bốn giám mục hiệu tòa lên đường đi Á Châu: hai đi đường thủy, hai đi đường bộ. Hai vị đi đường bộ đã bỏ xác dọc đường, chỉ còn hai đức cha Lambert De La Motte, và Francois Pallu là tới được địa chỉ truyền giáo. Họ là những người đã bước đi theo ánh sao để đi tìm Chúa nơi các dân tộc chưa nhận biết Thiên Chúa là Cha.

Chúa Giêsu chính là ánh sáng thế gian, bất cứ ai gặp Ngài với lòng thành thực đều được ánh sáng Ngài soi dẫn, cảm nghiệm hạnh phúc ngay trong cuộc sống trần thế này: Giờ đây lạy Chúa, xin để cho tôi tớ Chúa ra đi bình an theo như lời Người đã hứa ; vì chính mắt con đã được nhìn xem ơn cứu độ...

Tin Mừng ghi nhận: các vị vào hang đá gặp được Hài nhi và bái lạy Ngài. Họ dâng cho Ngài lễ vật: vàng, nhũ hương, mộc dược. Hành động bái lạy chỉ sự thờ phượng. Trong Kinh Thánh cử chỉ này chỉ dành cho một mình Thiên Chúa. Do vậy, các đạo sỹ bái lạy Hài nhi là lời tuyên xưng đức tin Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật trong hình hài của con trẻ Belem yếu ớt. Lễ vật dâng cho Chúa là diễn tả các chức năng vương đế, tư tế và ngôn sứ của Chúa Giêsu ; các chức năng phục vụ ơn cứu độ cho thế gian. Như vậy lên đường gặp gỡ Chúa Giêsu là gặp được hồng ân cứu độ, là bước từ bóng tối tới nơi đầy ánh sáng rạng ngời. Qua việc ba nhà đạo sỹ gặp Chúa, Thánh Matthêu muốn chuyển đến độc giả sứ điệp: Thiên Chúa yêu thương mọi người và ai cũng có quyền tới với Ngài để được cứu rỗi. Khi trình bày chân lý này, thánh ký muốn loại bỏ quan niệm Do Thái hẹp hòi: Thiên Chúa là của riêng Israel.

Bài Tin Mừng hôm nay không dừng lại nơi ba nhà đạo sỹ, mà còn đề cập đến các nhân vật khác như vua Hêrôđê, các thượng tế, kinh sư và dân chúng Jêrusalem. Những người này biết nơi Đấng cứu thế sinh ra: tại Belem, nhưng án binh bất động không khát khao lên đường tìm kiếm, tệ hơn còn nuôi lòng hận thù ghen ghét. Không lên đường tìm kiếm và còn đố kỵ ghen tuông nên vẫn còn bóng tối dầy đặc bao phủ cuộc đời, họ đã không gặp Chúa. Thiên Chúa là Tình Yêu, là ánh sáng nên chỉ những ai sống yêu thương hết mình và bước đi trong ánh sáng chân lý của Chúa, những người đó mới gặp Chúa.

Phần chúng ta, mừng lễ Hiển Linh, là đón nhận ánh sáng của Chúa vào cuộc đời. Ánh sáng ấy trước hết là:

Lòng quảng đại: mầu nhiệm cứu độ được ban tặng cho tất cả mọi người. Người kitô hữu sống yêu thương quảng đại là đang chiếu tỏa ánh sáng Chúa cho thế gian. Chúng ta phải luôn tâm niệm: mọi dân trên khắp cùng bờ cõi trái đất đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Thiếu lòng quảng đại, chúng ta có thể đóng cửa trời đối với người anh chị em mình. Ganhdi, vĩ nhân Ấn Độ, đã dành độc lập cho Ấn Độ từ tay đế quốc Anh bằng con đường bất bạo động, lần kia vào nhà thờ công giáo để dự lễ và tìm hiểu giáo lý. Thấy bóng ông trên bậc bước vào nhà thờ, những người da trắng nói với ông: ở đây không có cho cho bọn da đen chúng mày, hãy đi đến một nhà thờ dành cho người da đen mà dự lễ. Ganhdi bỏ đi và không bao giờ vào một nhà thờ nào nữa. Ông chia sẻ: tôi yêu mến Chúa Kitô và say mê giáo lý của Ngài, nhưng tôi không yêu mến những người kitô vì họ sống không giống Chúa Kitô.

Đức yêu thương là dây ràng buộc mọi điều hoàn thiện. Thánh Phaolô gọi đức ái là con đường siêu vời nhất. Sống đức ái trong gia đình, nơi cộng đoàn xã hội là đang làm cho ánh sáng nơi chúng ta bừng lên như những vì sao ở giữa thế gian: người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ của Thầy, là chúng con yêu thương nhau.

Lòng vị tha: xã hội hôm nay mạnh ai nấy sống, con người ích kỷ chỉ biết mình và vô cảm trước tha nhân. Đức Kitô là sự sẻ chia của Thiên Chúa cho con người. Hãy học nơi Chúa tinh thần vị kỷ: chậm bất bình, giầu lòng thương xót, và dễ dàng tha thứ cho người anh em. Lòng vị tha sẽ kiến tạo Nước Trời ngay tại môi trường chúng ta đang sống: Phúc cho ai hay thương xót người vì họ sẽ được xót thương.

Anh chị em thân mến, mừng lễ Chúa Hiển Linh hôm nay, chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mỗi chúng ta biết đón nhận thật nhiều ánh sáng của Chúa để chúng ta noi gương Chúa sống như những con cái ánh sáng giữa một thế hệ ngang trái và tà vạy, nhờ đó chúng ta loan truyền ánh sáng cứu độ của Chúa đến cho mọi người.

Xin Chúa chúc lành cho mỗi người chúng ta trong ngày lễ Hiển Linh hôm nay. Amen.

 

home Mục lục Lưu trữ