Hình thành - Phát triển
Sinh hoạt giáo xứ
Tìm hiểu giáo lý
Xã hội
Đang online: 100
Tổng truy cập: 1879675
CHỮA LÀNH NGƯỜI MÙ TỪ THUỞ MỚI SINH
CHỮA LÀNH NGƯỜI MÙ TỪ THUỞ MỚI SINH
Sau cuộc tranh luận dữ dội và sự nghiêm khắc của các chương 7 và 8 với các diễn tiến tập trung vào Chúa Kitô, thì đây là bài trần thuật đầy vẻ sống động, phân vân và đầy sinh lực. Tác giả khéo léo đan xen các bi kịch đầy đạo lý, với một vài trần thuật giàu tưởng tượng và kể chuyện nhiều hơn, làm nên một câu chuyện về Chúa Giêsu, người mù từ thuở mới sinh và nhiều nhân vật đối thoại khác. Trong số các bài trần thuật của Gioan thì bài này trổi vượt vì giọng điệu linh hoạt, ít khai triển thần học và vì bề dày của nhân thân người mù.
Phần dẫn (cc. 1-5)
Cách dẫn nhập vào bài trần thuật này (“đi ngang qua”) thường thấy trong sách Nhất Lãm (Mc 1,16; Mt 9,27) lại bất thường nơi Gioan. Cảnh tượng được trình thuật, có thể diễn ra bất cứ lúc nào vào một trong những ngày Chúa Giêsu ở Giêrusalem. Tuy nhiên bài trần thuật này nối khớp chặt chẽ với bài trần thuật trước đó: sự chống đối Chúa Giêsu được khai triển trong các chương 7 và 8 được tập trung ở đây trên một con người, bởi vì người này đang trở thành môn đệ của Chúa Giêsu. Nước ở hồ Silôê quan trọng đối với lễ Lều lại đón nhận ở đây con người mù lòa. Chúa Giêsu, “ánh sáng thế gian” trong 8, 12, phải đối đầu với sự đui mù của người Do Thái đang khép kín trước ánh sáng này. Ở đây, Đấng là “ánh sáng thế gian” (c.5) mở mắt cho người mù và, qua dấu lạ này, vạch trần cách minh bạch hơn sự đui mù của các lãnh tụ Do Thái.
Năm câu đầu tiên dẫn nhập các nhân vật và các chủ đề của bài trần thuật. Chúa Giêsu là nhân vật trung tâm, Đấng nhìn thấy người mù, đoán giải trước cảnh huống (dấu lạ như biểu hiện vinh quang), kết hợp các môn đệ (tái xuất hiện lần đầu tiên kể từ chương 6) vào công việc của Người (chúng ta phải làm việc) qua lời mặc khải mầu nhiệm (cc. 3-5). Vấn nạn mà các môn đệ nêu lên, phù hợp với lòng tin khá phổ biến trong đạo lý Do Thái theo đó đứa bé có thể phạm tội ngay trong bụng mẹ! Năm câu đầu tiên này tập trung vào Chúa Giêsu và lời mặc khải của Người sau đó nhường chỗ lại cho một bài trần thuật bóng bẩy, linh hoạt, đầy biến động.
Việc chữa lành (c. 6-7)
Phép lạ chỉ chiếm có hai câu: người kể chuyện chú trọng được cuộc tranh luận do dấu lạ gây nên và các hậu quả người mù phải chịu: Chúa Giêsu không thoa ngay nước miếng vào mắt người mù, mà trộn thành bùn và xức vào mắt người mù. Cảnh tượng này nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu đã khởi sự một công việc mà hiệu quả tượng trưng chỉ xuất hiện sau khi người mù đi đến hồ Silôê. Thánh Âutinh nói: “Người mù đến rửa ở hồ và đã chịu phép rửa trong Chúa Kitô”. Nguyên ngữ Silôê có nghĩa là “người được sai phái”, biến người mù thành một sứ giả vâng phục và chuẩn bị làm chứng tá sau này. Khác với Naaman (2V 5,10), người mù đã tin vào hiệu quả lời nói của Chúa Giêsu. Phần tiếp theo của bài trần thuật xác định sự thông hiểu kỳ lạ, sự sốt sắng với điều mới mẻ và khả năng tranh biện của anh ta. Người bại liệt ở chương 5 và người mù từ thuở mới sinh được chữa lành trong những hoàn cảnh khá giống nhau. Thế nhưng, bởi tính hồn nhiên, sự cởi mở, sự thông hiểu và tính dũng cảm của mình, người mù để lại đằng sau mình sự bại liệt không thể nhận ra được và cuối cùng càng thụ động hơn.
Trong các cảnh tiếp theo, Chúa Giêsu biến mất về thể chất. Thế nhưng Người vẫn chiếm vị trí tgm trong các câu tiếp sau các câu hỏi đáp giữa những người đối thoại và người mù.
Người mù và các người láng giềng (cc. 8-12)
Người mù được lành bệnh trở thành đối tượng của ba vấn nạn mà hai vấn nạn đầu thuộc về việc đã xảy ra trước: Có phải hắn không? Và làm sao mắt anh lại mở ra được như thế? Anh ta trả lời: Anh ta thuật lại từng chi tiết của dấu lạ bằng những từ ngữ gần như lặp lại từng chữ các câu 6 và 7. Chỉ có vấn nạn thứ ba khiến anh ta không thể trả lời: anh ta không biết Chúa Giêsu ở đâu. Anh ta còn cần phải trải qua một con đường dài trước khi xác định đức tin của mình vào Chúa Giêsu, trước khi đi từ dấu lạ đón tiếp nhận Chúa Giêsu, ánh sáng thế gian. Trong lúc này đây, Chúa Giêsu đối với anh ta là người chữa bệnh đơn thuần. Đấng mà người ta gọi là ông Giêsu mà anh ta đến ánh sáng đức tin. Thế nhưng việc Chúa Giêsu đi vào trong đời sống của người mù và ở giữa loài người bắt đầu làm phát sinh hậu quả công hiệu, có thể phân chia loài người thành những kẻ đón nhận dấu lạ và những kẻ từ khước Chúa Giêsu.
Người mù và những người Pharisêu (c. 13-17)
Việc tra hỏi của các lãnh tụ tôn giáo khiến người kể chuyện đưa vào một đề tài mới mẻ mang tính cách tôn giáo: dấu lạ được thực hiện vào ngày Sabat. Từ đó việc làm của Chúa Giêsu vào ngày lễ nghỉ khiến Người đối nghịch với Lề Luật và những đòi buộc của Lề Luật. Cả hai bài đều đối nghịch ở đây, để lộ hai cách giải thích về con người của Chúa Giêsu: có người cho rằng việc chữa lành bệnh tật vào ngày Sabat là vi phạm Lề Luật và như vậy là có tội. Đối với một số người khác thì hoàn thành một dấu lạ không thể là có tội được. Sự chia rẽ giữa các nhóm người về vấn đề Chúa Giêsu càng trở nên sâu xa. Sự đối lập giữa việc vi phạm ngày Sabat (công trình của Thiên Chúa) và việc chữa lành người mù không thể giải quyết được trong lúc này. Thế nhưng một cuộc tranh luận trở nên rõ ràng giữa luật pháp (đối nghịch với Chúa Giêsu) và sự việc chữa lành người mù (là ân huệ của Chúa). Không thể không khôi hài, người mù trở nên như vị trọng tài và hơn nữa tỏ rõ lập trường của mình: “Đó là một vị ngôn sứ”. Chắc chắn điều người mù quả quyết căn cứ vào Kinh Thánh, theo đó Đấng Mêsia được giao cho sứ mạng nên như ánh sáng thiên hạ và mở mắt người mù (Is 42,6-7; xem thêm Is 29,18; 32,3; 35,5).
Người Do Thái và cha mẹ người mù (cc. 18-23)
Cho đến lúc này đây, cha mẹ người mù chỉ mới được nhắc đến như những người chịu trách nhiệm về việc mù lòa của anh ta (c. 2). Bây giờ đây họ được mời đến. Các người Pharisêu ở đây được gọi thành “người Do Thái”: ghi nhận này cho thấy tác giả cũng như độc giả đều giữ một khoảng cách với đạo lý Do Thái. Câu trả lời của cha mẹ người mù dựa vào hai điều biết và hai điều không biết:
Chúng tôi biết nó là con chúng tôi,
và nó bị mù từ khi mới sinh.
Chúng tôi không biết làm sao nó thấy được
Chúng tôi cũng chẳng hay ai đã mở mắt cho nó.
Hai điều biết đối nhau. Một điều theo xác thịt; một điều theo Thần Khí. Điều này thuộc về mầu nhiệm của Chúa Kitô mà họ không thể hiểu được. Việc họ từ chối có thể hiểu được theo sự hợp lý của bài trần thuật. Người kể chuyện giải thích việc này như sợ bị trục xuất khỏi hội đường. Có thể thánh sử ghi nhận ở đây những nguy cơ dành cho những ai tin vào Chúa Giêsu bị phạt vạ tuyệt thông vào cuối thế kỷ I, điều chưa được biết đến vào thời Chúa Giêsu. Tuy nhiên trên bình diện bài trần thuật, việc người mù bị cô lập nhấn mạnh rằng tin vào Chúa Giêsu luôn luôn là một sự tự nguyện dấn thân mà cha mẹ không thể quyết định thay thế cho người môn đệ. Việc chọn lựa này không thể không nguy hiểm bởi vì nó có thể dẫn đến sự đoạn giao với tôn giáo của mình.
Hỏi cung người mù lần thứ hai (c. 24-34)
Sự can dự của cha mẹ người mù kết thúc bằng: “Nó khôn lớn rồi: Xin các ông cứ hỏi nó”. Từ nay người mù rơi vào tình trạng cô đơn, một mình dũng cảm đối diện với những người xét xử mình. Bài trần thuật hình như đối chiếu hai điều hiểu biết mà những người trong cuộc đang hiện diện không thể hiểu nổi: đối lại với lời “chúng ta biết” của nhóm người Pharisêu (c. 24), là lời “chúng ta biết” (c. 31) của người mù và của Giáo Hội mà anh ta đại diện nơi đây. Quả vậy đó là hai dạng hiểu biết đối kháng ở đây: điều hiểu biết thứ nhất (của người Pharisêu, từ nay đồng hóa với người Do Thái), cho rằng quá khứ vẫn còn có giá trị để hiểu được biến cố Giêsu (“chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Môsê”). Họ đem niềm xác tín này đối lại với sự không hiểu biết về nguồn gốc của Chúa Giêsu: “Còn ông ấy, chúng ta không biết ông ấy bởi đâu mà đến”. Dấu lạ được sử dụng cho hai cách giải thích: nhóm người Pharisêu chỉ chú ý đến việc vi phạm luật pháp (ông ấy là người tội lỗi bởi vì đã làm việc vào ngày Sabat) và tiếp tục cố chấp trước sự kiện kỳ lạ (một người mù nhìn thấy được).
Điều hiểu biết thứ hai cũng quả quyết như điều hiểu biết thứ nhất: người mù và qua anh ta Giáo Hội sơ khai tuyên bố: Chúng ta biết. Điều hiểu biết này ăn rễ sâu trong sự kiện: “trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được”. Ở đây các tiêu chuẩn thuộc về quá khứ đều vô hiệu: bởi vì điều đang diễn ra, nơi Chúa Giêsu, là chưa từng nghe thấy theo nghĩa đen của từ: “Xưa nay chưa hề nghe nói” –Sự hiểu biết của Giáo Hội dành ưu thế cho điều mới lạ tỏ hiện nơi Chúa Giêsu.
Hành trình của người mù kết thúc: anh ta đã đạt được cùng đích và đã đối chiếu hiểu biết của những kẻ đón nhận dấu lạ Thiên Chúa trao ban nơi Chúa Giêsu với điều hiểu biết của những kẻ đã dùng ông Môsê chống lại Thiên Chúa. Lời phát biểu của người Do Thái trong cách nói bóng gió riêng biệt của Gioan lặp lại phán quyết của các môn đệ về người mù từ thuở mới sinh: “một người tội lỗi”. Như vậy, bởi sự bao hàm này, người Do Thái chứng tỏ rằng họ đã không thay đổi ngay từ đầu. Họ đã không “thấy” dấu lạ có khả năng phá tan sự đui mù của họ.
Việc trục xuất người mù ra khỏi hội đường kết thúc bài trần thuật. Xem ra có sự liên lạc mật thiết giữa sự trục xuất này với thân phận của Chúa Giêsu trong mặc khải. Đối với người này người nọ, Chúa Giêsu là người tội lỗi, kẻ vi phạm Lề Luật. Đối với người mù, Người lại là vị ngôn sứ đặc biệt của Thiên Chúa. cho đến lúc ấy, người mù vẫn còn trong phạm vi đức tin theo Do Thái giáo; việc anh bị trục xuất ra khỏi hội đường khiến anh trở thành người bị khai trừ, nhưng chưa phải là một người tin vào Chúa Giêsu. Để tin theo Chúa, nhất thiết Người phải tái xuất hiện để giúp anh ta thực hiện bước tiến này.
Gia nhập cộng đoàn (c. 35-38)
Chúa Giêsu trở lại đón nhận con người bị trục xuất. Để làm điều đó, Người đã khiến có một bước chuyển biến quyết định từ “Chúa Giêsu ngôn sứ” đến “Chúa Giêsu Con Người”. Đấng Cứu Độ dẫn đưa vào trong cộng đoàn của thời cuối cùng. Trong cuộc tranh luận khiến anh ta đối đầu với các lãnh tụ Do Thái giáo và sau cùng “với người Do Thái”, người mù từ thuở mới sinh được lành bệnh đã chứng tỏ sự thông hiểu, sự sáng suốt để giải thích biến cố Giêsu. Ở đây Chúa Giêsu tỏ cho anh ta thấy sự xuất hiện của một di chuyển mới mẻ dưới sự dìu dắt của “Con Người”. Người mù sấp mình xuống trước mặt “Con Người”, nhận biết thiên tính của Người, bởi vì trong Tin Mừng Gioan, việc thờ phượng chỉ dành cho Thiên Chúa (Ga 4,20-24; 12-20), và tước hiệu “Chúa” là dấu chỉ căn tính thần linh của Chúa Giêsu. Thờ phượng Chúa Giêsu, nhận biết Người như Đấng mặc khải sau cùng của Thiên Chúa, là chóp đỉnh cuộc hành trình của người mù.
Chú giải (cc. 39-41).
Các người Pharisêu trở nên đối lập với người mù. Chúa Giêsu tự đặt mình vào tâm điểm của ngày Sabat, xác định sự đoạn giao giữa người Do Thái và các Kitô hữu trước hết và trên hết là một sự đoạn giao có liên quan đến Chúa Kitô. việc xét xử mà Người khơi dậy là sự chia cách. Tùy vào thái độ với Ngôi Lời nhập thể mà loài người hoặc ở trong bóng tối, hoặc ở trong ánh sáng.
64.Chúa Nhật 4 Mùa Chay
(Chú giải của Noel Quession)
Đi ngang qua, Đức Giêsu nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh
Khác với nhiều phép lạ, phép lạ này được làm không phải do một lời cầu xin. Chính Đức Giêsu chủ động đưa ra sáng kiến: “Đức Giêsu trông thấy một người mù”. Tôi có thể cầu nguyện từ chuyện đó. Đức Giêsu trông thấy một người mù". Tôi có thể cầu nguyện từ chuyện đó. Đức Giêsu trông thấy những thử thách của tôi.
Các môn đệ hỏi Người: "Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?" Đức Giêsu trả lời: "Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.
Câu hỏi của các môn đệ cũng là của chúng ta. Của tất cả mọi thời đại. Trước cái xấu, chúng ta tìm một giải đáp và chúng ta muốn tìm một người phạm tội. Những người xưa chỉ bằng lòng với một lý thuyết cổ xưa hơi quá đơn sơ một chút; sự xấu do bởi một tội lỗi. Nhưng chính Đức Giêsu lại không đặt vấn đề như vậy. Hơn nữa người không đề ra một giải đáp nào: cái xấu vẫn không chấp nhận được, không thể biện minh được. Chỉ có một phản ứng bình thường, có tính nhân bản nhất về nền tảng, đó là cố mà loại bỏ cái xấu xa này chẳng nào chúng ta có thể làm được. Và cuộc chiến đấu chống lại đau khổ không phải vô ích, hay cuối cùng chịu thất bại, bởi vì Đức Giêsu tỏ cho chúng ta biết rằng đấy là cuộc chiến đấu của chính Thiên Chúa: hành động rõ rệt mà vì thế Đức Giêsu tự xưng mình "là người được sai đi". Được sai đi? Bởi ai? Thế thì, Đức Giêsu này. Người từ đâu mà đến?
Vấn đề về nguồn gốc của Người này lại còn quan trọng hơn thế, vì hẳn là Người trông thấy toàn bộ việc thế gian chấm hết: Người biết Người sắp chết, đêm đã tới, và Người phải hành động bao lâu Người còn ở thế gian.
Cái chết mà Người thấy trước qua nỗi thù hận của các đối phương của Người (Ga 7,19-32.44; 8,59), đó sẽ là chiến thắng bề ngoài của sự xấu, chiến thắng của bóng đêm (Ga 13,30).
Nhưng bóng tối không chặn được ánh sáng" (Ga 1,5-9). Cám ơn Người, lạy Đức Giêsu. Vinh quang thuộc về Người, vì Người đã soi chiếu đêm tối của chúng con!
Nói xong, Đức Giêsu nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta: "Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa" (Si-lô-ác có nghĩa là: người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.
Một mô tả cụ thể để lộ người chứng tận mắt, Gioan. Nước bọt của một số người, theo những người xưa, có một giá trị dược liệu. Nhưng nhất là, chúng ta khám phá ở đó, thêm một lân nữa, cái thiên tài của Gioan, nhà thần học biểu tượng chủ nghĩa... và nhà thần học nhiệm tích... Vâng, người đàn ông mù từ thuở mới sinh này, bên kia trượng hợp cá nhân đầy xúc cảm, thực sự là một biếu tượng của nhân loại bị nhận chìm trong đêm tối, khi họ không biết Đức Giêsu, khi những đau khổ của loài người có vẻ như không có ý nghĩa. Và cái giếng Si-lo-ê này, bên kia vùng nước có thật của nó trong khu vực thấp trũng của Giêrusalem, thực sự là một biểu tượng của phép rửa thanh tẩy và chiếu sáng.
Điều làm cho Gioan, nhà thần học, chú ý, đó trước hết không phải là con người kỳ diệu lạ lùng, được kể ngắn gọn chỉ bằng ba dòng, đó chính là dấu hiệu biểu trưng mà Đức Giêsu đưa ra về chính mình và được biểu lộ qua cái tên huyền nhiệm của cái giếng "Si-lô-ê có nghĩa trong tiếng Do Thái là "Shilloah" Người được sai đi". Được sai đi? Do ai?
Cái bản vị Giêsu, Đấng được sai đi, nêu ra nhiều vấn đề hoài nghi xác định lập trường, tranh cãi, Người là ai? Không người nào đã từng bao giờ đặt nhiều câu hỏi như thế. Tại sao? Định mệnh của Người là gì? Phép lạ của người mù được chữa khỏi mới xong khi Đức Giêsu dường như vừa đi khỏi hiện trường. Nhưng vấn đề chính là về Người trong quá trình một vụ án kỳ lạ tập tục, thông qua bản thân của người đã được hưởng lòng tốt của Đức Giêsu. Chúng ta sắp dự vào bốn cuộc hỏi cung liên tiếp, ngày càng bắt nhân. Nhưng cuối cùng, chính Đức Giêsu can thiệp lại để kiện lại những đối phương của Người.
VỤ KIỆN I: Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói: "Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?” có người nói: "Chính hắn đó!". Kẻ khác lại rằng: 'không phải đâu! Nhưng là một đứa nào giồng hắn đó thôi!". Còn anh ta thì quả quyết: "Chính tôi đây!". Người ta liền hỏi: "Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế?". Anh ta trả lời: "Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi rồi bảo: "Anh hãy đến hồ Si-lô-ê mà rửa". Tôi đã đi, và sau khi rửa tôi nhìn thấy được" Họ lại hỏi anh: “ông ấy ở đâu?”. Anh ta đáp: “Tôi không biết”.
Đó là những người làng xóm đã làm cuộc điều tra ưu tiên: Cái gì đã diễn ra? Nó đã diễn ra như thế nào? ai đã làm chuyện đó? Lúc này chúng ta chỉ nghĩ tới một động tác tự nhiên vì có thiện cảm nên tò mò. Ngày nay vẫn còn. Có một số đông người cùng thời với chúng ta chỉ chú ý đến Đức Giêsu tới chỗ đó: người ta nhận xét một sự kiện... nhưng người ta không muốn rắc rối cuộc đời và người ta không đi xa hơn. Còn về anh mù được chữa lành, chính anh ta trở về từ rất xa. Chúng ta lưu ý là anh ta chưa biết gì về Đức Giêsu cả, anh ta chỉ biết người ta gọi ông ấy là Giêsu.
VỤ KIỆN II: Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pharisêu. Nhưng ngày Đức Giêsu trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. Vậy, các người Pharisêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời: "Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy." Trong nhóm Pharisêu, người thì nói: "Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát"; kẻ thì bảo: "Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?" Thế là họ đâm ra chia rẽ. Họ lại hỏi người mù: "Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?" Anh đáp: "Người là một vị ngôn sứ!"
Đứng trước Đức Giêsu, ý kiến bị phân rẽ: người này thì ủng hộ... người kia thì chống đối... Người, con người có thiện chí, bắt đầu từ từ mà tiến lên. Ngoài ra đó là những điều phiền nhiễu của những người điều tra muốn đây anh ta đi xa hơn. Bây giờ anh ta khẳng định: Đó là một ngôn sứ. Lạy Chúa. xin giúp chúng con tiến đi trong đức tin.
VỤ KIỆN III: Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. Họ hỏi: "Anh này có phải là con ông bà không? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được?" Cha mẹ anh đáp: "Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được." Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô. Vì thế, cha mẹ anh mới nói: "Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.
Thế là một thái độ khác đối diện với Đức Giêsu đó là một sự trốn chạy. Nhưng người ta chối từ, không muốn tự đặt cho mình một số vấn đề có thể gây ra liên lụy. Không thể tôi thường thuộc vào loại này ư? Người ta có thể đừng nên làm gì để khỏi có nhiều chuyện!
VỤ KIỆN IV: Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo: "Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi." Anh ta đáp: "Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều: trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được!" Họ mới nói với anh: "Ông ấy đã làm gì cho anh? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào?" Anh trả lời: "Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?" Họ liền mắng nhiếc anh: "Có mày mới là môn đệ của ông ấy; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê; nhưng chúng ta không biết ông Giêsu ấy bởi đâu mà đến." Anh đáp: "Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi! Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì." Họ đối lại: "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?" Rồi họ trục xuất anh.
Những người Pharisêu, bị lún sâu vào trong hệ thống của họ: Họ "biết"! Đó tà tiếng họ lặp lại và tỏ rõ lòng tự mãn của họ. Họ chối từ, biến đổi, trong khi dựa vào truyền thống. Chấp nhận cái mới của một người vi phạm. Ngày Sa-bát sẽ làm cho hệ thống giáo điều của họ lâm nguy. Như vậy họ chối từ bằng chứng hiển nhiên. Và như thế họ phạm tội duy nhất có trong Tin Mừng theo Thánh Gioan: chối từ lòng tin... muốn là một người không tin...bịt mắt trước huyền nhiệm Đức Giêsu. Ta hãy chú ý đến cách sử dụng tinh vi của động từ "biết" nhờ đó, người ta thấy rõ các cửa mở vào đức tin hay lối chặn cho sự không tin. 1. Cha mẹ "biết" đó chính là con trai họ... nhưng họ không muốn "biết" ai đã mở mắt cho con họ, để không bị liên lụy (9,20-21). 2. Những người Pharisêu "biết" Đức Giêsu đã từ đâu đến (9,24-29). 3. Anh mù chính anh ta không "biết" Đức Giêsu đi đâu, không "biết" đó có phải là một người tội lỗi không... nhưng anh ta "biết rằng anh ta đã được chữa khỏi và “biết" rằng Thiên Chúa không đoái nghe những người tội lỗi (9,12-25-31). Còn chúng ta, chúng ta có đi tìm chân lý không? Chúng ta có bị chặn trước những hiểu biết của chúng ta không? Chúng ta có ham hiểu biết nhiều hơn không, mở con mắt đui mù của chúng ta ra không?
Đức Giêsu nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi: "Anh có tin vào Con Người không?" Anh đáp: "Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?" Đức Giêsu trả lời: "Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây." Anh nói: "Thưa Ngài, tôi tin. Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.
Trong khi những người Pharisêu bị giam hãm trong sự vô tín của họ, thì anh mù, chính anh lại không ngừng tiến lên trong lòng tin, và chúng ta chú ý là lòng tin này chỉ đạt tới đỉnh cao theo sáng kiến và vấn đề bản vị của chính Đức Giêsu. Tất cả những câu hỏi mà các đối thủ đặt ra cho anh ta, đâu làm cho anh tiến lên, nhưng sự tuyên xưng đức tin của anh ta chỉ thành tựu nhờ cuộc gặp gỡ bản thân của Đức Giêsu. Còn chúng ta, đức tin cửa chúng ta có tiến lên, theo gương của người mù này, người dần dần mở mắt trước huyền nhiệm, một cách tiệm tiến không? ban đầu người ta chỉ đứng trước "người mà người ta gọi là Giêsu (9,11). Và rồi người ta phát hiện "một ngôn sứ "(9,17)... một người nào đến từ "Thiên Chúa" (9,88)... và sau cùng "Con Người" (9,35) và "Chúa (9,38). Đây là sự trả miếng của Thiên Chúa. Người bất hạnh đáng thương đã tìm thấy hạnh phúc đích thực duy nhất. Mù từ thuở mới sinh, không được những người hàng xóm giúp đỡ nhiều lắm, không được cha mẹ nâng đỡ bị đuổi ra khỏi giáo đường như một tên bị bệnh ôn dịch... Nhưng mềm vui tin tưởng to lớn biết bao!
Đức Giêsu nói: "Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!" Những người Pharisêu đang ở đó với Đức Giêsu nghe vậy, liền lên tiếng: "Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?" Đức Giêsu bảo họ: "Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: `Chúng tôi thấy', nên tội các ông vẫn còn!"
Đó là sự lật ngược hoàn hoàn các tình huống: "tội lỗi không ở chỗ những người Pharisêu đã đặt nó, chính họ là những người khinh miệt người tội lỗi bẩn thỉu này bị đánh dấu từ thuở mới sinh... và coi sự đui mù đích thực không hề ở chỗ mà họ đặt ra. Chính họ là những người mù, chỉ mình họ chối từ, không trông thấy cái đập thẳng vào mắt họ.
Ta hãy chú ý đến điều Đức Giêsu khẳng định: không phải Thiên Chúa lên án họ theo bề ngoài,… chính họ là những người tự lên án mình.
Cuộc Phán xét chỉ đến chuẩn nhận cái mà người ta đã quyết đinh một cách tự do. Đó chính là sự phi lý tự sát của việc chối bỏ đức tin. Với Ni-cô-đê-mô, Đức Giêsu đã nói: Ai chối bỏ lòng tin thì đã bị lên án rồi... phán đoán là như thế này đây: những người ưa thích bóng tối hơn là ánh sáng (Ga 8,18-19). Bản thân Đức Giêsu buộc phải có một chọn lựa: phải chọn lựa! Trong Thánh Gian, có một tác dụng thường xuyên giữa hai động từ "thấy" và "tin"...Người ta trông thấy những dấu chỉ muốn mời gọi tin tưởng (Ga 1,50; 3,86; 4,48; 6,26-36.40; 9,39-41; 11,45; 20,8; 20,29). Và Chúa Giêsu, ở đây, khẳng định mạnh mẽ rằng những người Pharisêu không thể dung tha vì không tin, bởi vì họ đã trông thấy dấu chỉ, bởi vì các ông trông thấy... tội các ông vẫn còn.
Các tin khác
.: GIẢNG CHÚA NHẬT 04 MÙA CHAY (14/03/2026) .: CHÚA GIÊSU MỞ MẮT CHO NGƯỜI MÙ LÒA (14/03/2026) .: ANH ĐÃ ĐI RỬA RỒI TRỞ LẠI VÀ ĐƯỢC SÁNG (14/03/2026) .: XIN CHÚA CHO ĐƯỢC THẤY CHÚA TRONG CUỘC ĐỜI (14/03/2026) .: LỜI THÁCH ĐỐ CHO CUỘC SỐNG HÔM NAY (14/03/2026) .: TÔI PHẢI LÀM VIỆC CỦA ĐẤNG ĐÃ SAI TÔI (14/03/2026) .: CHÚA GIÊSU CHỮA NGƯỜI MÙ TỪ LÚC MỚI SINH (14/03/2026) .: MÙ THỜI HIỆN ĐẠI (14/03/2026) .: NGUYỆN VỌNG CỦA NGƯỜI MÙ TỪ THUỞ MỚI SINH. (14/03/2026) .: XIN CHO CON NHỮNG CON MẮT ĐỂ ĐƯỢC THẤY NGÀI (14/03/2026) .: GIÊSU LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN (14/03/2026) .: HÃY BIẾT MÌNH (14/03/2026) .: CHÚA LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NIỀM VUI (14/03/2026) .: NGUỒN SÁNG THẬT (14/03/2026) .: ÁNH SÁNG TỪ TRÁI TIM (14/03/2026)
Mục lục Lưu trữ
- Văn Kiện Giáo Hội
- Giáo Hội Công Giáo VN
- Tin Ngắn Giáo Hội
- Tài Liệu Nghiên Cứu
- Tủ Sách Giáo Lý
- Phụng Vụ
- Mục Vụ
- Truyền Giáo
- Suy Niệm Lời Chúa
- Lời Sống
- Gợi Ý Giảng Lễ
- Hạnh Các Thánh
- Sống Đạo Giữa Đời
-
Cầu Nguyện & Suy Niệm
- Cầu Nguyện
- Suy Niệm
- Cầu Nguyện Là Gì?
- Cầu Nguyện Từ Mọi Sự Vật
- Suy Niệm Đời Chúa
- Mỗi Ngày Năm Phút Suy Niệm, (Mùa Vọng -> CNTN) - Năm A
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A - Mùa Chay
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A - Mùa Phục Sinh
- Mỗi Ngày Năm Phút Suy Niệm - Mùa Chay, C
- Năm Phút Suy Niệm Lời Chúa - Tuần Thánh - Phục Sinh, C
- Năm Phút Suy Niệm Lời Chúa Mỗi Tuần Thường Niên C
- Năm Phút Suy Niệm, Năm B (2011-12)
- Năm Phút Suy Niệm, Năm C (2012-13)
- Năm Phút Suy Niệm, Năm A (2013-14)
- Cầu Nguyện Chung
- Suy Tư Và Thư Giãn
- Thánh Ca Việt Nam
- Phúc Âm Nhật Ký
- Thơ
- Electronic Books (Ebooks)
- Vatican
- Liên HĐGM Á châu
- Đài Phát thanh Chân lý Á châu - Chương trình Việt ngữ
- Giáo phận Bà Rịa
- Giáo phận Ban Mê Thuột
- Giáo phận Bắc Ninh
- Giáo phận Bùi Chu
- Giáo phận Cần Thơ
- Giáo phận Đà Lạt
- Giáo phận Đà Nẵng
- Tổng Giáo phận Hà Nội
- Giáo phận Hải Phòng
- Tổng Giáo phận Huế
- Giáo phận Hưng Hóa
- Giáo phận Kon Tum
- Giáo phận Lạng Sơn
- Giáo phận Long Xuyên
- Giáo phận Mỹ Tho
- Giáo phận Nha Trang
- Giáo phận Phan Thiết
- Giáo phận Phát Diệm
- Giáo phận Phú Cường
- Giáo phận Qui Nhơn
- Giáo phận Thái Bình
- Giáo phận Thanh Hóa
- Tổng Giáo phận TP HCM
- Giáo phận Vinh
- Giáo phận Vĩnh Long
- Giáo phận Xuân Lộc
- Ủy ban BAXH-Caritas Việt Nam
- Ủy ban Công lý và Hòa bình
- Ủy ban Giáo dục Công giáo
- Ủy ban Giáo lý Đức tin
- Ủy ban Kinh Thánh
- Ủy ban Mục vụ Di dân
- Ủy ban Mục vụ Gia đình
- Ủy ban Nghệ Thuật Thánh
- Liên hiệp Bề trên Thượng cấp Việt Nam