Flag Counter

Tìm hiểu giáo lý

Thống kê truy cập

Đang online: 19

Tổng truy cập: 1854382

ĐỨC GIÊSU - CON ĐƯỜNG CỨU ĐỘ DUY NHẤT

ĐỨC GIÊSU - CON ĐƯỜNG CỨU ĐỘ DUY NHẤT

 

(Suy niệm của Lm. Bùi Quang Tuấn)

"Ngước mắt lên, các ông thấy chẳng còn ai, trừ ai một mình Chúa Giêsu" (Mt 17:8).

Trong cuốn sách tựa đề "Gương Hiếu Thảo", tác giả Phan Như Huyên có thuật lại gương chí hiếu của Công Chúa An Thường như sau: An Thường là con gái thứ tư của vua Minh Mạng. Nàng rất thông minh và thảo hiếu. Năm lên 9 tuổi, mẹ của công chúa bị bịnh. Lúc đó vào dịp lễ Vạn Thọ, các hoàng tử công chúa đều được triệu vào cung để chúc tuổi vua cha. Nhà vua cho các hoàng tử được ăn thịt dê. An Thường chỉ ngậm thịt trong miệng chứ không nuốt. Vua thấy lạ mới hỏi nguyên do, cô trả lời: "Con nghe nói thịt dê bổ lắm, nên con ngậm về cho mẹ đang bị bịnh ăn cho mau khỏe". Nghe vậy, vua cảm động quá, mới truyền đem khay lấy thêm thịt để An Thường đưa về cho Mẹ. Đến khi Vua Minh Mạng chết, nàng để tang ba năm, sống bên lăng cha cho trọn đạo hiếu.

Khi đề cập đến đạo hiếu trong văn hoá Việt Nam, Đức TGM Stephanô Nguyễn Như Thể của TGP Huế tại Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu, đã phát biểu: Người Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo. Cả ba tôn giáo đó đều cho lòng hiếu thảo là nhân đức căn bản của gia đình và xã hội. Việc sốt sắng tôn kính và phục vụ cha mẹ khi còn sống cũng như lúc qua đời là một bổn phận ưu tiên. Luân lý và văn minh đều tùy thuộc vào bổn phận này.

Có lẽ trong những quốc gia mà đạo hiếu bám rễ sâu vào lòng người như Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ..., nơi mà "tứ đại đồng đường", ba bốn đời vẫn ở chung nhau dưới một mái nhà, thì việc rao giảng hay đón nhận Kitô giáo sẽ không phải là một chuyện dễ dàng. Tại sao thế?

Lý do là vì nhiều người cảm thấy băn khoăn muốn phải kháng khi nghe Đức Giêsu nói: "Ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình thì không thể làm môn đệ của Ta" (Lc 14:26).

Vấn đề được đặt ra là: "Trên thế gian này có gì cao đẹp cho bằng tình cảm cha mẹ con cái, vợ chồng, anh em, và có gì quí giá cho bằng sự sống, ấy thế mà Đức Giêsu nào đó lại bảo người ta phải hy sinh từ bỏ để có thế gắn bó với Ngài. Thử hỏi Đức Giêsu là ai mà đòi hỏi người ta một việc làm quá đáng như vậy? Phải chăng Đức Giêsu đang dạy con người sống bất hiếu?"

Điều cần xác minh trước hết, ấy là Chúa Giêsu không hề dạy người ta bất hiếu hay bất nghĩa. Ngài đã từng nhắc đi nhắc lại điều răn thứ 4 là giới răn dạy người ta thảo kính với mẹ cha. Khi một chàng thanh niên đến hỏi Chúa Giêsu làm thế nào để được hạnh phúc đời đời, câu trả lời của Ngài đã có phần: "ngươi phải thảo kính cha mẹ". Ngay khi trên thập giá, trước lúc tắt hơi, Ngài vẫn quan tâm đến Mẹ Maria và lo liệu để Gioan đón Mẹ về nhà chăm nom. Thế nên không thể nào nói Chúa Giêsu bất hiếu hay dạy người ta sống bất hiếu được.

Vậy thì làm sao để lý giải được câu nói trên đây của Chúa Giêsu?

Thật ra có gì khó hiểu đâu nếu như có những con người đã vì một đất nước trần thế, một đất nước nay còn mai mất, nay vào tay chế độ này mai vào tay chế độ khác, mà họ còn dám dấn thân và hy sinh cha mẹ anh em cùng sự sống, thì với một đất nước vĩnh hằng, một đất nước được thống trị bởi Đức Giêsu, vua tình yêu và chân lý, thì có gì là khó hiểu khi có những con người dám liều bỏ hết tất cả để đi theo vị vua đó và xây dựng đất nước đó.

Mấy ai lại không biết một Thomas More dám bỏ vua Henry VIII, chấp nhận xa vợ con, và cuối cùng là mất mạng sống để bênh vực cho chân lý trung tín yêu thương, một vợ một chồng, mà Vua Giêsu đã truyền dạy.

Mấy ai lại không biết một Giêrađô Majella trốn nhà ra đi sau khi ghi vội cho mẹ mấy lời: "Mẹ ở nhà con đi làm thánh". Hay một Charles Cornay đã can đảm bước qua mình song thân, lên đường đi rao truyền chân lý Nước Trời cho Việt Nam, chấp nhận biết bao khốn khó nghèo khổ, và rồi cuối cùng chấp nhận cái chết lăng trì vì con người có tên Giêsu.

Nhưng không phải là ai cũng hiểu rõ được bản chất thực sự của Đức Giêsu để dám bước theo Ngài cách can đảm và quyết liệt. Lắm khi người ta lại cho Ngài chỉ giống như một hiền triết, hay một vĩ nhân, hoặc một nhà sáng lập tôn giáo nào đó. Nhưng một hiền triết, một vĩ nhân, hay một người sáng lập tôn giáo như Đức Khổng, hay Đức Lão, hoặc Đức Phật, thì cũng chỉ là những con người nói về yêu thương và dạy về chân lý, khuyên bảo chúng sinh làm lành lánh dữ, chứ các ngài không là yêu thương, hay là chân lý. Nhưng Đức Giêsu thì trái lại, Ngài là yêu thương, là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống. Quan trọng là chỗ đó! (ĐC Fulton J. Sheen).

Thế thì, một khi nhận thức và xác tín Đức Giêsu chính là chân lý soi sáng đường đi cho con người, là tình yêu đưa đến một sự sống phong phú tràn đầy, thì việc bước theo Ngài, làm môn đệ của Ngài sẽ là bước đi tất yếu cho những ai muốn sống sự thật, muốn sống yêu thương, và muốn trở nên con người toàn vẹn. Ngoài Đức Giêsu Kitô, sẽ không còn ai có thể lấp đầy khát vọng đó.

"Ngước mắt lên, các ông thấy chẳng còn ai, chỉ trừ một mình Chúa Giêsu". Hai nhà đại tiên tri và lãnh đạo tôn giáo là Êlia và Môisen biến mất. "Chỉ còn một mình Chúa Giêsu". Theo nhận định của một nhà chú giải: rồi đây "mọi chủ thuyết triết học, mọi ý thức hệ vang bóng một thời rồi cũng sẽ bị lãng quên". Các tinh hoa của mọi nẻo đường cũng chỉ qui về một mối trong Đức Giêsu, Đấng là Đường duy nhất dẫn đến Chân Thiện Mỹ của muôn vật muôn loài.

Thật chí lý thay niềm xác tín của Giáo hội: "Không có ơn Cứu Độ ngoài Đức Giêsu".

 

41.Chúa Nhật 2 Mùa Chay

(Suy niệm của Victor Cancino, S.J. - Nhóm Sao Biển chuyển ngữ từ America Magazine)

TRONG MÙA CHAY NÀY, HÃY THEO ĐUỔI ĐIỀU GÌ ĐÓ SÂU SẮC HƠN CĂN TÍNH

Căn tính chỉ là một sự thật nửa vời. Một người cần nhìn toàn cảnh để định hình sự hiểu biết về bản thân. Tuy nhiên, chúng ta chỉ nhìn thấy toàn cảnh cuộc đời vào chặng cuối hành trình cuộc sống.

Bài Tin mừng theo thánh Mátthêu vào Chúa Nhật II mùa Chay tuần này làm nổi bật việc Chúa Giêsu biến hình trên núi với đầy đủ vẻ sáng lạng, vinh quang và quyền năng. Khung cảnh này vừa mở rộng vừa hạn chế và cũng cho thấy một cái nhìn thoáng qua về vinh quang trọn vẹn của Chúa Giêsu, nhưng vẫn còn giới hạn nếu chưa có thực tại thập giá. Trong cảnh tượng này, sự mặc khải vinh quang của Chúa Giêsu rất quan trọng, nhưng có điều gì đó còn sâu sắc hơn cả căn tính. Đó là một điều gì khác, sâu sắc hơn, có thể được nhìn thấy trên ngọn núi khi Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng bức tranh đầy đủ về căn tính của Ngài vẫn chưa được tỏ lộ. Họ còn phải chờ đợi.

Trong bài Tin mừng Chúa Nhật tuần trước, tên cám dỗ đã dụ dỗ Chúa Giêsu chối bỏ tương quan thần linh của Ngài với Chúa Cha (x. Mt 4,1-11). Kẻ cám dỗ nói hai lần: “Nếu ông là Con Thiên Chúa,” điều này tạo dịp cho Chúa Giêsu hoài nghi về vai trò cơ bản của Ngài trên trần gian. Trong lần cám dỗ thứ ba, kẻ cám dỗ đưa Chúa Giêsu lên một ngón núi cao và trao quyền cai trị các nước để đổi lấy việc Chúa Giêsu quy phục ý muốn của ma quỷ. Câu trả lời của Chúa Giêsu khiến Satan phải chạy trốn, và ma quỷ tạm thời bỏ đi.

Trong bài Tin mừng Chúa Nhật tuần này, Chúa Giêsu đưa các môn đệ là Phêrô, Giacôbê và Gioan đến với kinh nghiệm trên đỉnh núi của chính Ngài. Khung cảnh này gợi cho độc giả nhớ lại cuộc gặp gỡ của Môsê với Thiên Chúa trên đỉnh núi (Xh 34,29-30). Núi là nơi trái đất chạm đến các tầng trời, là nơi hạ giới gặp gỡ ngai của Thiên Chúa. Một tiếng nói phát ra từ đám mây và có chức năng như một lời nhắc nhở về ý thức sâu xa nhất của Chúa Giêsu: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!"  (Mt 17,5). Cụm từ này gợi lại những truyền thống trong Kinh Thánh giống như cụm từ được tìm thấy trong Thánh vịnh 2: “Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con” (Tv 2,7). Mỗi sách Tin mừng đều trích dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp câu này để nhấn mạnh căn tính của Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.

Cụm từ “Đây là Con Ta yêu dấu, rất đẹp lòng Ta,” được lặp lại và xuất hiện khắp các sách Tin mừng cho thấy tầm quan trọng của cụm từ này đối với các tác giả Kitô giáo thời sơ khai. Thánh Mátthêu tin rằng câu này rất quan trọng để Chúa Giêsu hiểu về chính mình. Hơn nữa, khung cảnh Chúa Giêsu ở trên đỉnh núi cũng có Môsê và Êlia xuất hiện thoáng qua. Điều này gợi ý rằng Chúa Giêsu kiện toàn ba vai trò: người ban hành luật (Môsê), nơi ứng nghiệm lời ngôn sứ (Êlia) và là Đấng được xức dầu sẽ đến (Tv 2,7). Căn tính của Chúa Giêsu có vẻ an toàn, không cần thêm gì nữa. Tiếng nói từ các đám mây củng cố căn tính này bằng cách lặp lại lời Thiên Chúa phán khi Chúa Giêsu chịu phép rửa: “Đây là con Ta yêu dấu” (x. Mt 3:17).

Nhưng sứ điệp của biến cố Hiển dung tự nó không đầy đủ nếu không có mầu nhiệm Vượt qua sắp xảy đến. Việc Đức Giêsu tự hiểu biết về mình không phải là hệ quả quan trọng nhất của lời Chúa Cha phán. Tương tự, lời chứng của Phêrô và của các môn đệ khác về cảnh tượng này không quan trọng đối với sứ vụ. Điều này nghe có vẻ lạ, nhưng bản văn đã nói rõ về điều này. “Khi họ từ trên núi xuống,” Chúa Giêsu nhắc nhở các môn đệ: "Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy"  (Mt 17,9). Mặc khải trọn vẹn về Chúa Giêsu phải bao gồm thập giá, cái chết và phục sinh trong vinh quang.

Bài Tin mừng hôm nay hàm ý rằng thực tại sâu xa nhất không phải là sự tự hiểu mình là con Thiên Chúa. “Điều gì đó sâu sắc hơn” đến khi người ta lấy tiếng Chúa làm động lực để tin tưởng vào Chúa trong những lúc gian nan của cuộc sống. Đây là lối bước mà Chúa Giêsu thực hiện trong cuộc đời mình. Đây là lối bước mà tất cả các môn đệ thực hiện trong Mùa Chay. Nếu không có lối bước trọn vẹn của Chúa Giêsu, không có cuộc khổ nạn của Chúa, thì cuộc biến hình vẫn không trọn vẹn.

CẦU NGUYỆN

Chúng ta có để cho những lo lắng về căn tính cá nhân làm lu mờ sự hiểu biết sâu sắc hơn về tiếng gọi của Thiên Chúa không?

Cuộc sống của chúng ta hôm nay phản ánh cuộc sống của Chúa Giêsu như thế nào?

Chúng ta miễn cưỡng chấp nhận cách sai lầm vì sự thật nửa vời khi nào?

 

home Mục lục Lưu trữ